- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Cao Văn Th yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh Cao Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 29 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 44/2024/TLST-VLĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 21/2024/QĐST-LĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Anh Cao Văn Th, sinh năm 1991; thường trú: Tổ 7, Ấp 3, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
+ Công ty TNHH Điện tử TT; địa chỉ: Đường số 4, khu công nghiệp T, phường Tân Đông H, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Văn Thị Trường L, sinh năm 1982; địa chỉ: Đường số 4, khu công nghiệp T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 20/3/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn Tr, sinh năm 1988; địa chỉ: 141/1A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/3/2024). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bảo hiểm xã hội huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Đường 3/2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Ngọc N-Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Đường 3/2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng N là đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết anh Cao Văn Th trình bày: Tháng 11/2014 đến tháng 05/2016, ông Th làm việc tại Công ty cổ phần B, địa chỉ: Số 3, Đường 40, Khu phố 8, phường H, thành phố Th, thành phố Hồ Chí Minh và có đóng bảo hiểm xã hội số: 7914245935. Tháng 07/2017 đến tháng 02/2021, ông Th làm việc tại Công ty cổ phần cơ khí Eurorack, địa chỉ: Số 166, đường Phan Văn H, phường 17, quận Bình Th, thành phố Hồ Chí Minh (sau đó chuyển qua địa chỉ số 23/4A, đường L, Khu phố 7, phường H, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) và có đóng bảo hiểm xã hội số: 7914245935. Nay ông Th tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của ông Th bị trùng thời gian đóng Bảo hiểm xã hội từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019. Lý do bị trùng bảo hiểm là do có người giả mạo, sử dụng thông tin của cá nhân của ông Th để giao kết Hợp đồng lao động với Công Ty TNHH Đ từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019. Ông Th nhiều lần liên hệ Bảo hiểm xã hội huyện Định Quán để được làm thủ tục chốt sổ bảo hiểm thì được nhân viên bảo hiểm xã hội hướng dẫn ông Th đến Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng lao động bị giả mạo tại Công Ty TNHH Đ.
Vì vậy, ông Th yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Cao Văn Th (người giả mạo thông tin của ông Th) với Công ty Đ (thời gian làm việc từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019) là vô hiệu.
* Ông Dương Văn Tr là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của ông Cao Văn Th sinh ngày 11/11/1991, số CMND xxxxxxxxx (CCCD xxxxxxxxxxxx), có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội:
+ Mã số 7914245935 từ tháng 11/2014 đến tháng 05/2016 tại Công ty Cổ phần B; từ tháng 07/2017 đến tháng 09/2020 và từ tháng 12/2020 đến tháng 02/2021 tại Công ty Cổ phần C chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN.
+ Mã số 7415155566 từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019 tại Công ty TNHH Đ chưa nhận trợ cấp BHXH và BHTN.
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của Cao Văn Th, Bảo hiểm xã hội không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của anh Cao Văn Th thì Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.
* Ông Trần Ngọc Nam là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan –Bảo hiểm xã hội huyện Đ trình bày:
Qua tra cứu hệ thống của ngành Bảo hiểm xã hội thì thông tin về ông Cao Văn Th thể hiện:
- Ông Cao Văn Th, sinh ngày 11/11/1991. Số CCCD/ĐDCN: 075091017321. Số sổ BHXH: 7914245935; thường trú: Tổ 7, Ấp 3, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Hiện ông Cao Văn Th hiện đang tham BHYT theo diện tự đóng (tham gia BHYT theo nhóm đối tượng hộ gia đình) tại xã L, huyện Đ; Mã số thẻ BHYT: GD4757914245935; HSD của thẻ BHYT: Từ 01/07/2023 - 30/06/2024.
Thời gian từ tháng 11/2014 đến tháng 05/2016. Ông Cao Văn Th làm việc tại Công ty Cổ phần B; địa chỉ: Khu phố 8, phường H, thành phố Th, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty đóng BHXH cho ông Cao Văn Th tại Bảo hiểm xã hội thành phố Th, sau đó nghỉ việc hưởng trợ cấp BHTN 3 tháng từ tháng 8/2016 - 11/2016 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai.
Thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 02/2021 tham gia làm việc tại Công ty Cổ phần Cơ khí Eurorack; địa chỉ: đường Lê Văn Kh, Khu phố 7, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong khoảng thời gian 6/2018, ông Cao Văn Th có hưởng chế độ ốm đau (bệnh dài ngày chấn thương sọ não có di chứng hoặc biến chứng). Đến tháng 3/2021 ông Cao Văn Th nghỉ việc hưởng trợ cấp BHTN 03 tháng từ 5/2021 - 8/2021 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai.
- Ông Cao Văn Th, sinh ngày 11/11/1991 (lấy thông tin cá nhân của ông Th); số CMND: xxxxxxxxx; số sổ BHXH: 7415155566; thường trú: Tổ 7, Ấp 3, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Qua tra cứu thông tin trên hệ thống của ngành BHXH, thời gian 9/2015 đến 01/2019, ông Cao Văn Th làm việc tại Công ty TNHH Đ; địa chỉ KCN T, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương. Công ty đóng Bảo hiểm xã hội cho ông Cao Văn Th tại BHXH thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tháng 01/2019 NLĐ có hưởng chế độ ốm đau. Đến tháng 02/2019 ông Cao Văn Th nghỉ việc hưởng trợ cấp BHTN 03 tháng từ 4/2019 đến tháng 7/2019 tại BHXH tỉnh Bình Dương.
Qua quá trình kiểm tra dữ liệu thông tin của ngành BHXH thì hiện tại ông Cao Văn Th có 2 số sổ BHXH khác nhau và trùng thời gian tham gia từ 9/2015 đến 01/2019 ở 03 Công ty khác nhau đó là: Công ty Cổ phần B, địa chỉ: Khu phố 8, phường H, thành phố Th, thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Cổ phần Cơ khí Eurorack, địa chỉ: Đường Lê Văn Kh, Khu phố 7, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty TNHH Đ; địa chỉ: KCN T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của anh Cao Văn Th là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Cao Văn Th, người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương, Bảo hiểm xã hội huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Đ có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Quá trình tố tụng Công ty TNHH Điện tử TT và Bảo hiểm xã hội khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019, người lao động lấy tên Cao Văn Th, sinh ngày 11/11/1991; số CMND: xxxxxxxxx được Công ty TNHH Đ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội 7415155566. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Đ với người lao động (người lấy thông tin cá nhân của ông Th) phát sinh từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019, hai bên có ký kết hợp đồng lao động. Hiện tại người lao động làm việc tại Công ty TNHH Đ đã nghỉ việc từ năm 2019 nên phía Công ty cũng như bản thân ông Th không biết thực tế người này tên họ, năm sinh là gì, quê quán ở đâu. Theo xác nhận của Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An và Bảo hiểm xã hội huyện Đ thì ông Cao Văn Th có 2 số sổ BHXH khác nhau và trùng thời gian tham gia từ 9/2015 đến 01/2019. Như vậy, có cơ sở xác định người lao động làm việc tại Công ty TNHH Đ đã sử dụng thông tin cá nhân của ông Cao Văn Th để xác lập quan hệ lao động nên bị trùng lắp thời gian tham gia bảo hiểm xã hội.
Xét thấy, việc người lao động sử dụng chứng minh nhân dân của anh Cao Văn Th để giao kết hợp đồng lao động với TNHH Đ là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D, Bảo hiểm xã hội huyện Đ đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh Cao Văn Th bị trùng từ 09/2015 đến tháng 01/2019. Do đó, ông Th yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa TNHH Đ với anh Cao Văn Th (người lấy thông tin của ông Th) từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Anh Cao Văn Th phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh Cao Văn Th.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Cao Văn Th với Công ty TNHH Đ (thời gian làm việc từ tháng 09/2015 đến tháng 01/2019) bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Anh Cao Văn Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004498 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THA DS TP.Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Nguyễn Thị Thắm |