- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2024/QĐST-LĐ | Bình Tân, ngày 25 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Yến.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Trúc - Thư ký, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 31/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 508/2024/QĐST-LĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà N.N.H, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: 1766 ấp Đ, xã Đ, thị xã BM, tỉnh VL. Người đại diện theo ủy quyền: Ông L.V.A.T, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: 32/10 khóm X, Phường Y, thành phố VL, tỉnh VL (theo văn bản ủy quyền lập ngày 27/3/2024 của Ủy ban nH dân xã Đ, thị xã BM, tỉnh VL) (Có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà N.T.N.T, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: ấp H, xã An Phú T, huyện Châu T, tỉnh ĐT. (Có đơn xin vắng mặt).
2. Công ty Cổ phần sản xuất T.P; địa chỉ trụ sở: khu công nghiệp N, Lô 34-36, Đường số X, phường T, quận BT, Thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Chang Chen H (theo Giấy ủy quyền số 040724/GUQ ngày 04/7/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị) (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai ngày 27/5/2024, ngày 16/7/2024 bà N.N.H có ông L.V.A.T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2011, khi bà N.N.H (sau đây gọi là bà H) ở trọ chung với bà N.T.N.T (sau đây gọi là bà T), bà H có nhờ bà T đi photo giấy tờ tùy thân thì bà T đã tự ý sử dụng giấy tờ của bà H để đi làm và ký kết hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần sản xuất T.P (sau đây gọi là Công ty T.P) từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 và tham gia bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm số 7910350701.
Năm 2011, bà H cũng đi làm tại Công ty TNHH B tại khu công nghiệp H, huyện L, tỉnh VL và có tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ là 8611005745, đối với sổ bảo hiểm xã hội này tham gia tại bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Long từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012 đã hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 01 lần theo Quyết định số 500/QĐ-BHXH ngày 29/10/2013 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Long nhưng bà chưa được lãnh bảo hiểm thất nghiệp và được bảo lưu bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012, sổ bảo hiểm xã hội số 8611005745 hiện được gộp chung với sổ bảo hiểm xã hội hiện nay của bà là sổ BHXH số 8013067079.
Hiện nay, bà H chưa được giải quyết dứt điểm các chế độ của bảo hiểm xã hội đối với thời gian làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH BO H từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012 theo sổ BHXH số 8611005745 (do có thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012). Để có đủ hồ sơ tách quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bị trùng và đủ điều kiện hưởng hết các chế độ bảo hiểm theo quy định. Do đó, bà H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 là vô hiệu để bà đủ điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định.
Theo bản tự khai ngày 27/5/2024, bà N.T.N.T trình bày:
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không hiểu biết pháp luật nên bà T đã mượn hồ sơ cá nH của bà H để làm việc tại Công ty T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012, có tham gia bảo hiểm xã hội, sổ bảo hiểm số 7910350701. Nay, bà T đồng ý với yêu cầu của bà H về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 là vô hiệu. Bà T cũng xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết việc dân sự nói trên.
Theo bản tự khai ngày 04/7/2024, Công ty Cổ phần sản xuất T.P có ông Chang Chen H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty T.P có ký hợp đồng lao động với bà N.N.H, sinh năm 1989 từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 thì bà H tự xin nghỉ. Trong thời gian này, Công ty T.P có đóng đủ bảo hiểm xã hội (BHXH) cho bà H với sổ BHXH số 7910350701. Vì thời gian đã lâu nên Công ty không còn lưu giữ hợp đồng. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thì bà H cho bà T mượn hồ sơ để đi làm thực tế tại Công ty T.P, thời gian này trùng với thời gian bà H làm việc tại Công ty TNHH Bo H, vì vậy mà cơ quan BHXH phát hiện bà H có nhiều sổ BHXH chưa đồng bộ nên bà H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động của bà với Công ty T.P thì Công ty không có ý kiến gì, Công ty T.P đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định. Công ty T.P xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.
Tại phiên họp: Các đương sự giữ nguyên ý kiến trình bày và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý việc dân sự tới thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên họp tuân thủ đúng pháp luật.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà N.N.H về việc tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty Cổ phần sản xuất T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Tân nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà N.N.H có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty Cổ phần sản xuất T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 là vô hiệu, nơi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại Công ty Cổ phần T.P có địa chỉ tại khu công nghiệp T, Lô 34-36, Đường số X, phường T, quận BT, Thành phố H. Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, theo quy định tại khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35 và điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục giải quyết vắng mặt các đương sự: Bà N.N.H có ông L.V.A.T, bà N.T.N.T và Công ty Cổ phần sản xuất T.P cùng có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.
. Về yêu cầu của đương sự: Xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty Cổ phần sản xuất T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 là vô hiệu, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy: Bà N.T.N.T có mượn hồ sơ cá nhân của bà N.N.H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7910350701 từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 tại Công ty T.P. Trong khi đó, bà N.N.H cũng làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 8611005745 từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012 tại Công ty TNHH Bo H. Do đó, hiện nay bà N.N.H không được giải quyết dứt điểm các chế độ của bảo hiểm xã hội đối với thời gian làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 06/2011 đến tháng 06/2012 (do thời gian đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012). Bà N.T.N.T cũng thừa nhận đã mượn hồ sơ cá nH của bà N.N.H để ký kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 với sổ bảo hiểm số 7910350701. Việc tham gia bảo hiểm xã hội với thời gian nói trên của bà N.T.N.T với tên bà N.N.H cũng đã được Công ty T.P và Bảo hiểm Xã hội quận Bình Tân xác nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”.
Ngoài ra, theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Đồng thời, theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà N.T.N.T mượn hồ sơ cá nhân của bà N.N.H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7910350701 từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 tại Công ty T.P là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, đối với yêu cầu của bà N.N.H về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty Cổ phần sản xuất T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 vô hiệu là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên họp.
.Về lệ phí việc dân sự: Bà N.N.H chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19, 50, 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, 49, 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà N.N.H.
1.1. Tuyên bố Hợp đồng lao động giữa bà N.N.H (do bà N.T.N.T thực hiện) với Công ty Cổ phần sản xuất T.P từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2012 là vô hiệu.
1.2. Điều chỉnh tên N.N.H trên sổ BHXH số 7910350701 thành tên N.T.N.T.
1.3. Bà N.N.H và bà N.T.N.T được liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để điều chỉnh tên trên sổ BHXH số 7910350701 từ tên N.N.H sang tên N.T.N.T.
2. Về lệ phí việc dân sự: Bà N.N.H phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011377 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân. Bà N.N.H đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày người vắng mặt nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Q.Bình Tân; - Chi cục THADS Q.Bình Tân; - Lưu hồ sơ; VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hồng Yến |