- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Đặng Thị T, sinh ngày: 16/12/1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Thái Lan và anh Trương Hữu H, sinh …
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2023/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 03 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Đức Quang - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/01/2023 về việc "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn", theo Quyết định mở phiên họp giải quyết số 14/2023/QĐ-ST ngày 27/01/2023, giữa các đương sự:
- Người yêu cầu: Chị Đặng Thị T, sinh ngày: 16/12/1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Thái Lan, đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người yêu cầu: Anh Trương Hữu H, sinh ngày: 12/9/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Thái Lan, đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo nội dung Đơn khởi kiện giải quyết ly hôn của chị Đặng Thị T và ý kiến của anh Trương Hữu H cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc Hôn nhân gia đình có nội dung:
Chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, theo Sổ đăng ký số 27/2015, quyển số 01/2014, ngày 10/6/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hoà thuận, hạnh phúc tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và có 01 con chung. Quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không quan tâm, thiếu sự tin tưởng. Năm 2020, anh Trương Hữu H đi lao động tại Thái Lan, sau đó chị Đặng Thị T cũng sang Thái Lan làm việc. Mặc dù sống chung nhưng chị T và anh H thường xuyên cãi vã. Sau đó, chị T và anh H ly thân. Nhận thấy, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Đặng Thị T khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết ly hôn.
Về con chung: Anh Trương Hữu H và chị Đặng Thị T có hai con chung là Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho chị Đặng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị T không yêu cầu anh Trương Hữu H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh Trương Hữu H thông qua thân nhân đã trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Đặng Thị T khởi kiện như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nội dung chị Đặng Thị T trình bày trong đơn khởi kiện. Do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ly thân trong thời gian dài, khoảng cách địa lý xa xôi, không tin tưởng và không muốn hàn gắn, duy trì quan hệ vợ chồng nên anh Trương Hữu H yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Về con chung: Vợ chồng thống nhất giao hai con chung là Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020 cho chị Đặng Thị T nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, anh Trương Hữu H đang đi lao động tại Thái Lan. Thời điểm anh H đi Thái Lan do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, cơ quan chức năng cấm xuất nhập cảnh nên phải đi bằng đường bộ (đường rừng) để tránh bị phát hiện. Anh Trương Hữu H khẳng định, hiện nay anh đang lao động tại Thái Lan. Do công việc, điều kiện đi lại khó khăn, anh Trương Hữu H không về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ cụ thể tại Thái Lan, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, ủy quyền giao nhận tài liệu cho bố đẻ là ông Trương Công Hào, địa chỉ: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân của các đương sự tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, ngày 10/6/2015 theo Sổ đăng ký số 27/2015, quyển số 01/2014. Quy trình đăng ký kết hôn được thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền và trình tự, thủ tục. Vợ chồng có 02 con chung là Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020. Anh H, chị T chưa hòa giải hôn nhân gia đình tại chính quyền. Chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện K. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chính quyền địa phương không nắm bắt được thông tin. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau và đề nghị Hội đồng giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự; công nhận thuận tình ly hôn của chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H, về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao hai con chung Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020 cho chị Đặng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thẩm phán giải quyết việc Hôn nhân gia đình nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tại Công văn số 27923/QLXNC-P5 ngày 20/12/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an thể hiện “Anh Trương Hữu H đã xuất nhập cảnh 46 lần, đã nhập cảnh gần nhất ngày 13/02/2020; chị Đặng Thị T đã xuất nhập cảnh 54 lần, lần gần đây nhất vào ngày 09/12/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Theo thông tin ông Trương Công Hào cung cấp, Biên bản xác minh của Tòa án tại UBND xã K, huyện K cũng như Biên bản ghi nhận sự việc trong quá trình Tòa án làm việc với đương sự hiện đang ở nước ngoài đều thể hiện anh Trương Hữu H hiện nay không có mặt tại địa phương, đang lao động tại Thái Lan. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình làm việc, anh Trương Hữu H trình bày thống nhất với toàn bộ yêu cầu của chị Đặng Thị T, không tranh chấp. Do công việc, anh H không về Việt Nam để giải quyết việc hôn nhân gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho bố đẻ là ông Trương Công Hào. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Trương Hữu H thông qua người được ủy quyền và chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”.
Chị Đặng Thị T có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ Điều 205, 207, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 01/2023/TB-TA ngày 19/01/2023 về việc vụ việc không hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H được xây dựng trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn phát sinh khi chị T và anh H đi lao động tại Thái Lan. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng. Vợ chồng ly thân trong thời gian dài. Nhận thấy thời gian xa cách lâu ngày, tình cảm vợ chồng không được vun đắp, xây dựng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H không còn. Vợ chồng không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T, anh H như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn của chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ con chung: Chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H có 02 con chung là Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020. Trong thời gian chị T và anh H đi lao động tại Thái Lan, hai con được ông bà ngoại chăm sóc, chị T trực tiếp chu cấp nuôi con chung. Các cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, được học tập đầy đủ. Do đó, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Giao hai con chung là Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020 cho chị Đặng Thị T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận thuận tình ly hôn của các đương sự.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 146, 147, 361, 362, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Đặng Thị T, sinh ngày: 16/12/1995, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, địa chỉ liên hệ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Thái Lan và anh Trương Hữu H, sinh ngày: 12/9/1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Thái Lan.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Đặng Thị T và anh Trương Hữu H: Giao hai con chung Trương Ngọc Mỹ Chi, sinh ngày: 04/11/2015 và Trương Đức Nhân, sinh ngày: 19/3/2020 cho chị Đặng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Anh Trương Hữu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4. Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận sự tự nguyện nộp tiền lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng của chị Đặng Thị T theo biên lai số 0000465 ngày 18 tháng 01 năm 2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hồ Đức Quang |