vanban.org

Quyết định 21/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành dân sự” đối với anh Phan Đức L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Phan Văn T - Phan Đức Long"
  • Tòa quyết gì? Điểm khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2021/QĐST-VDSThủ Dầu Một, ngày 17 tháng 12 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(Về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Cẩm Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2021/VDS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 17/2021/QĐST-VDS ngày 03 tháng 12 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Phan Văn T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số T, đường B, tổ N, khu phố M, phường PL, thành phố T, tỉnh Bình Dương, (có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 26 tháng 5 năm 2021 và tại phiên họp, người yêu cầu ông Phan Văn T trình bày: Cháu Phan Đức L, sinh năm 1995 là con ruột của ông Phan Văn T và bà Trần Thị C. Ông T và bà C kết hôn với nhau năm 1994 đến năm 1995 bà C sinh ra cháu L, từ khi sinh ra cháu L bị bệnh bại não, chậm phát triễn, tay chân co quắp không thể đi đứng, mọi sinh hoạt của cháu đều phải có người chăm sóc. Năm 1998 ông T và bà Trần Thị C ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 64 ngày 04/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, sau khi ly hôn ông T là người được giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L cho đến nay. Theo giấy chứng nhận sức khỏe, của Bệnh viện 4 – Quân đoàn 4 kết luận cháu Long bị bệnh bại não và hàng tháng cháu L được lĩnh tiền bảo trợ xã hội theo diện người khuyết tật đặc biệt nặng do nhiễm chất độc màu da cam tại địa phương. Do vậy, nay ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố cháu Phan Đức L bị mất năng lực hành vi dân sự để bổ túc hồ sơ ly hôn, tranh chấp tài sản chung giữa ông T với bà Bùi Ngọc B.

Theo bản tự khai ngày 20/9/2021 bà Trần Thị C trình bày: Bà C thống nhất với ý kiến trình bày của ông Phan Văn T. Cháu Phan Đức L, sinh năm 1995 là con chung của ông Phan Văn T và bà Trần Thị C, từ khi sinh ra cháu L bị bệnh bại não, chậm phát triển, tay chân co quắp không thể đi đứng, mọi sinh hoạt của cháu đều phải có người chăm sóc. Vào năm 1998 bà C và ông T ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 64 ngày 04/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Sau khi ly hôn ông T là người được giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L và theo giấy chứng nhận sức khỏe của Bệnh viện 4 – Quân đoàn 4 kết luận cháu L bị bệnh bại não nên nay bà C thống nhất với yêu cầu của ông T đề nghị Tòa án tuyên bố cháu Phan Đức L bị mất năng lực hành vi dân sự.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 366, 369 Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

Về nội dung: Căn cứ vào bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 582/KL-VPYTW ngày 23/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn T về việc yêu cầu tuyên bố anh Phan Đức L mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố T nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Ông Phan Văn T yêu cầu tuyên bố anh Phan Đức L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số T, đường B, tổ N, khu phố M, phường PL, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người mất năng lực hành vi dân sự nên yêu cầu của ông T là yêu cầu việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét yêu cầu của ông Phan Văn T:

Căn cứ vào lời trình bày của ông Phan Văn T: Anh Phan Đức L sinh năm 1995 là con ruột của ông Phan Văn T và bà Trần Thị C. Ông T và bà C kết hôn với nhau năm 1994 đến năm 1995 bà C sinh ra cháu L, từ khi sinh ra cháu Long bị bệnh bại não, chậm phát triển, tay chân co quắp không thể đi đứng, mọi sinh hoạt của cháu đều phải có người chăm sóc. Theo giấy chứng nhận sức khỏe, của Bệnh viện 4 – Quân đoàn 4 kết luận cháu L bị bệnh bại não và hàng tháng cháu L được lĩnh tiền bảo trợ xã hội theo diện người khuyết tật đặc biệt nặng do nhiễm chất độc màu da cam tại địa phương.

Ngày 29/6/2021, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định số 06/2021/QĐ-TCGĐ để trưng cầu giám định năng lực hành vi dân sự của anh Phan Đức L.

Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 582/KL-VPYTW ngày 23/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương Biên Hòa đối với anh Phan Đức L đã kết luận:

- Về y học: Đương sự bị bệnh chậm phát triễn tâm thần mức độ trầm trọng (F73– ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự có đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn T về việc yêu cầu tuyên bố anh Phan Đức L là người mất năng lực hành vi dân sự.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phan Văn T phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 143; khoản 1 Điều 149; Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điểm khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành dân sự” đối với anh Phan Đức L.

Tuyên bố anh Phan Đức L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số T, đường B, tổ N, khu phố M, phường PL, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người bị mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phan Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0056401 ngày 11/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định .

Cỡ chữ