- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T.C.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA TIÊN HUẾ ------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 208/2021/QĐST-VDS | Thành phố Huế, ngày 01 tháng 9 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Văn Nam.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Linh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 194/2021/TLST-VDS ngày 02 tháng 8 năm 2021 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 72/2021/QĐST-MPHVDS ngày 24 tháng 8 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn T.C, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn V.Q, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
+ Anh Nguyễn V.P, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Đường T, phường B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
+ Chị Nguyễn T.N.Y, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Đường B, phường L, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt. Nơi cư trú hiện tại: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 07/7/2021, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu là bà Nguyễn T.C trình bày:
Chị Nguyễn T.T.N là con gái của bà C và ông Nguyễn H.Đ. Khi mới sinh ra, thể chất và tâm thần của chị N có dấu hiệu phát triển không bình thường. Lúc nhỏ, chị N dù không bị sốt nhưng thường xuyên bị co giật chân tay, trợn mắt, sùi bọt mép và mất ý thức. Qua khám và điều trị tại Trung tâm Y tế thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế thì chị N được chẩn đoán “Theo dõi động kinh”. Mặc dù được uống thuốc thường xuyên nhưng tình trạng bệnh vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng hơn. Chị N không có khả năng tiếp thu để học tập, làm việc. Trong khoảng thời gian từ 10 năm nay, chị N bị bệnh nặng, ý thức kém, không đi lại được, phải ngồi xe lăn, mọi việc ăn uống, vệ sinh cá nhân không thể tự thực hiện mà đều phải do người nhà trực tiếp chăm sóc. Nguyên nhân dẫn đến bệnh tật của chị N là do ảnh hưởng của chất độc da cam. Ngày 20/8/2018, chị Nguyễn T.T.N được Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy xác nhận khuyết tật với mức độ đặc biệt nặng và đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định.
Hiện nay, chị N bị tâm thần nặng, không nhận thức được gì; để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chị N theo quy định của pháp luật, bà Nguyễn T.C yêu cầu Tòa án xem xét tuyên bố con gái bà là chị Nguyễn T.T.N mất năng lực hành vi dân sự.
Kèm theo đơn yêu cầu, bà Nguyễn T.C đã giao nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo gồm: Sổ hộ khẩu gia đình chủ hộ Nguyễn T.C (Bản sao); Giấy chứng minh nhân dân của bà Nguyễn T.C (Bản sao); Trích lục khai sinh của Nguyễn T.T.N (Bản sao); Sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội (Bản sao); Giấy xác nhận khuyết tật đối với Nguyễn T.T.N (Bản sao); Sổ điều trị ngoại trú của Nguyễn T.T.N.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn V.Q, anh Nguyễn V.P và chị Nguyễn T.N.Y thống nhất với nội dung mà bà Nguyễn T.C đã trình bày nêu trên và không bổ sung gì thêm.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên họp có ý kiến phát biểu như sau: Lời khai của người yêu cầu về tình trạng bệnh lý tâm thần của chị Nguyễn T.T.N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả trưng cầu giám định của Tòa án nhân dân thành phố Huế được Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung giám định kết luận: “Thời điểm hiện tại, chị Nguyễn T.T.N mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”. Do đó, bà Nguyễn T.C yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn T.T.N bị mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Huế nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là yêu cầu giải quyết việc dân sự, người yêu cầu và người bị yêu cầu đều có địa chỉ cư trú tại thành phố H. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Huế thụ lý giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ việc yêu cầu chị Nguyễn T.T.N mất năng lực hành vi dân sự, thấy rằng:
Theo lời khai của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì chị Nguyễn T.T.N từ lúc mới sinh ra đã có thể chất và tâm thần phát triển không bình thường do ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Từ khi còn nhỏ cho đến nay, chị N thường xuyên lên cơn động kinh, co giật, tâm thần không ổn định, không có khả năng tiếp thu để học tập và làm việc. Mặc dù đã điều trị nội trú, ngoại trú nhiều lần và uống thuốc thường xuyên nhưng tình trạng bệnh tâm thần của chị N vẫn không thuyên giảm mà ngày càng nặng hơn và hiện tại không còn nhận thức được gì.
Trên cơ sở yêu cầu của người yêu cầu, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã ra Quyết định trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 671/KLGĐ ngày 23/8/2021, Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận về tình trạng tâm thần và năng lực hành vi dân sự của chị Nguyễn T.T.N như sau:
“Thời điểm hiện tại:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (F72) + Động kinh cơn lớn (G40);
b. Kết luận về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”.
Tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Như vậy, căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần và các tài liệu chứng cứ nêu trên, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Huế nhận thấy yêu cầu của bà Nguyễn T.C về việc tuyên bố chị Nguyễn T.T.N mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn T.C phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 372 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T.C.
Tuyên bố chị Nguyễn T.T.N, sinh ngày 19/02/1982; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn T.C phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002987 ngày 02/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà Nguyễn T.C đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt tại phiên họp nên có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh TT – Huế; - VKSND thành phố H; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS thành phố H; - Lưu Hồ sơ việc dân sự; Tòa DS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Văn Nam |