- Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Bà Bùi Thị Phương yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 202/2026/QĐST-VLĐ | TP. Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 253/2026/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 6 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 185/2026/QĐST-VLĐ ngày 17 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị P, sinh năm 1990; thường trú: Khối T, phường T, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ liên hệ: Công ty R, đường số F, KCN A, xã L, thành phố Đ, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH C1, địa chỉ: Lô A, đường số B, khu công nghiệp S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị C, sinh năm 1979, địa chỉ: Số C L, khu phố C, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bảo hiểm xã hội cơ sở Dĩ An - Thành phố H; địa chỉ: Đường T, khu T hành chính D, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; chức vụ: chuyên viên Bảo hiểm xã hội Cơ sở Dĩ An; là người đại diện theo ủy quyền, (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết người yêu cầu bà Bùi Thị Phương trình B:
Tháng 3/2009 bà Bùi Thị P ký kết hợp đồng lao động và tham gia làm việc tại Công ty TNHH F (Việt Nam) và được Công ty T1 mã số sổ 7909090721 cho đến tháng 3/2025 thì nghỉ việc. Bà Bùi Thị P tiến hành làm thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội một lần, Bảo hiểm xã hội Thành phố H đã rà soát và phát hiện quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của bà bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 với mã số bảo hiểm xã hội 7410125377. Lý do bị trùng bảo hiểm xã hội là do người khác sử dụng thông tin của bà P, mạo danh ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 và tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH C1 từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010. Nhận thấy việc người khác sử dụng thông tin của bà P để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 là sai quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P.
Vì vậy, bà Bùi Thị P yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Bùi Thị P (do người khác ký kết) với Công ty TNHH C1 là vô hiệu. Bà Bùi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D - Thành phố Hồ Chí Minh là ông Dương Văn T trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của bà Bùi Thị P, sinh năm 1990, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, thì Công ty TNHH C1 có tham gia BHXH, BHTN cho bà Bùi Thị P theo số sổ BHXH 7410125377 có quá trình tham gia BHXH, BHTN từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 chưa chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra, bà Bùi Thị P có mã số BHXH 7909090721 có quá trình tham gia BHXH từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2025 tại Công ty TNHH F. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Bùi Thị P và Công ty TNHH C1 đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ – CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Về các yêu cầu khác của bà P thì ông không có ý kiến.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C1 là bà Ngô Thị C trình bày: Bà Bùi Thị P được nhận vào làm việc tại Công ty TNHH C1, có ký kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ. Thời gian bà P làm việc tại Công ty từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 thì nghỉ việc. Tất cả người lao động khi xin việc tại Công ty TNHH C1 đều phải có hồ sơ xin việc, sơ yếu lí lịch đầy đủ, có xác nhận của chính quyền địa phương thì mới được nhận vào làm việc tại Công ty. Công ty rất đông công nhân nên không thể không có sai sót trong quá trình kiểm tra hồ sơ tuyển dụng. Nay, bà P yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu với lý do bị trùng bảo hiểm xã hội thì Công ty không biết được vì lỗi là của bà P. Nay bà P yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà P với Công ty TNHH C1 vô hiệu thì Công ty không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết. Trường hợp, Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì Công ty TNHH C1 không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời không có yêu cầu gì trong vụ án này.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Bùi Thị P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D - Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty TNHH C1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Bùi Thị P là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Bùi Thị P, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D - Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty TNHH C1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Xem xét yêu cầu của đương sự: Trong thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010, người lao động tên Bùi Thị P, sinh năm 1990, căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, được Công ty TNHH C1 tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7410125377. Tuy nhiên, bà P khẳng định người tham gia quan hệ lao động với Công ty TNHH C1 và thực tế làm việc tại công ty T2 khoảng thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 không phải là bà Bùi Thị P. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm là do có người giả mạo chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà P để xin vào Công ty TNHH C1 làm việc.
Xét thấy, lời khai của bà P phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở D - Thành phố Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 3/2009 đến tháng 3/2025, bà P đang làm việc tại Công ty TNHH F và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội số 7909090721.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 trong khoảng thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 không phải là bà Bùi Thị P. Việc người khác sử dụng thông tin của bà P để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C1 từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010 tại Công ty TNHH C1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị P về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị P với Công ty TNHH C1 theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410125377 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà P về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH C1 trong giai đoạn từ tháng 4/2010 đến tháng 6/2010, không phải là bà Bùi Thị P; bà P có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410125377.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Bùi Thị P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Bùi Thị P.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Bùi Thị P với Công ty TNHH C1 (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410125377) bị vô hiệu.
Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410125377 không phải là bà Bùi Thị P, sinh ngày 10/6/1990, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Bùi Thị P được quyền liên hệ với C2 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410125377.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Bùi Thị P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0035196 ngày 04/6/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Hồng |