- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Ông Lê Văn Nguyên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 191/2025/QĐST-VLĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 287/2025/TLST-VLĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 160/2025/QĐST-VLĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Lê Văn N, sinh năm: 1991; thường trú: Xóm E, xã T,
tỉnh Nghệ An (trước đây là xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An).
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu là ông Lê Đình A, sinh năm 1995:
thường trú: Thôn H, xã P, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: Số B, đường T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Hoặc bà Nguyễn Thị Hằng N1, sinh năm 1999; thường trú: Ấp C, xã Đ, tỉnh
Cà Mau; địa chỉ liên hệ: Số B, đường T, khu phố N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê S, sinh năm: 1982; địa chỉ: Thôn T, phường H, tỉnh Hà Tĩnh (trước
đây là xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH G; địa chỉ: Số D khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh (trước đây là phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu - Thành phố H; địa chỉ: đường N, phường
L, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết người đại diện hợp pháp của người yêu cầu là ông Lê Đình A trình bày: Từ tháng 5/2010, ông N làm việc tại Công ty Cổ phần G1 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7410144830. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011, ông Lê Văn N cho ông Lê Sơn M chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ BHXH 7410307531. Ông Lê Văn N xác định người ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH G là ông Lê S. Do hiểu biết pháp luật hạn chế, để ông Lê S tìm được việc làm có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình nên ông Lê Văn N mới cho mượn chứng minh nhân dân để đi xin việc. Vì vậy, ông Lê Văn N bị trùng bảo hiểm xã hội trong thời gian cho ông Lê Sơn M thông tin cá nhân để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội, ông Lê Văn N yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên ông Lê Văn N (do ông Lê S là người ký kết) với Công ty TNHH G là vô hiệu. Ông Lê Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê S thống nhất trình bày của
ông Lê Văn N. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của ông Lê Văn N, ông Lê S đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của ông Lê Văn N. Ông Lê S không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Tại Công văn của Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là Bảo hiểm xã hội
cơ sở L) xác định: Ông Lê Văn N có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (B), bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) ở các số sổ BHXH: Từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011, ông Lê Văn N tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ BHXH 7410307531 tại Công ty TNHH G. Từ tháng 05/2010 đến tháng 06/2024, ông Lê Văn N tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7410144830 tại Công ty Cổ phần G1 (nay là Công ty cổ phần C).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH G không cung cấp
ý kiến và tài liệu chứng cứ để Tòa án xem xét.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu ông Lê Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê S, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH G vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của ông Lê Văn N là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Lê Văn N, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu, ông Lê S có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH G vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011, người lao động
tên Lê Văn N giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G, bảo hiểm tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số sổ BHXH 7410307531. Tuy nhiên, ông Lê Văn N và ông Lê S đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011 là ông Lê S (do ông Lê Văn N cho ông Lê Sơn M chứng minh nhân dân để xin việc làm).
Xét thấy, lời khai của ông Lê Văn N và ông Lê S phù hợp với xác nhận
của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 05/2010 đến tháng 06/2024, ông Lê Văn N tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) 7410144830 tại Công ty Cổ phần G1. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G trong khoảng thời gian tháng 11/2010 đến tháng 09/2011 là ông Lê S, không phải là ông Lê Văn N.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Lê Sơn M hồ sơ cá nhân của ông Lê Văn N để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7410307531 từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011 tại Công ty TNHH G là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn
N về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Văn N với Công ty TNHH G theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410307531 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét
yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn N về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH G trong giai đoạn từ tháng 11/2010 đến tháng 09/2011 là ông Lê S, không phải là ông Lê Văn N. Ông Lê Văn N và ông Lê S có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410307531.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Ông Lê Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Lê Văn N.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Văn N với Công ty TNHH G
(Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410307531) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7410307531 không
phải là ông Lê Văn N, sinh năm 1991; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Ông Lê Văn N và ông Lê S được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7410307531.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Lê Văn N phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0011313 ngày 26/8/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Hồng |