- Tranh chấp gì? "Trần Đức Lân"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Đức L, sinh năm 1987.
- Căn cứ chính? Luật Phòng, chống ma túy; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19a/2021/QĐ-TA | E, ngày 14 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
“Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐẮK LẮK
- Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Đỗ Xuân Cường.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thế Trường
Ngày 14 tháng 7 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số: 17/2022, ngày 28 tháng 6 năm 2022; theo Quyết định mở phiên họp số: 17/2022/QĐ-TA ngày 30 tháng 6 năm 2022 và thông báo hoãn phiên họp số: 02/2022/TB-TA ngày 07 tháng 7 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Trần Đức L, giới tính: Nam, sinh năm 1987; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nguyên quán: Tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố 2, thị trấn D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Tiền sự, Tiền án: Không; con ông Trần Đức LH và bà Trịnh Thị H Nhài. Vắng mặt không có lý do.
Với sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E: Ông Nguyễn Anh Khuấn - Chức vụ: Phó trưởng phòng. Có mặt
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E: Ông Trịnh Văn Hai - Chức vụ: Kiểm sát viên. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 16/6/2022 Công an thị trấn D, huyện E đã có giấy đề nghị xác đình tình trang nghiện ma túy đối với Trần Đức L tại Trung tâm Y tế huyện E với kết quả xét nghiệm là có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Trong biên bản lấy lời khai thì Lâm khai nhận mình có sử dụng ma túy từ năm 2018, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Ngày 20/6/2022 UBND thị trấn D đã lập biên bản vi phạm số 06/BB-VPHC, về việc Trần Đức L sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện.
Trước đó, ngày 13/5/2022 Chủ tịch UBND thị trấn D đã ra Quyết định số 111/QĐ-UBND, về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Trần Đức Lâm.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E trình bày: Trần Đức Lâm là người nghiện ma túy, hiện đang cai nghiện ma túy tại nhà nhưng quá trình cai nghiện L vẫn sử dụng ma túy và bị UBND thị trấn D lập biên bản vi phạm, nên thuộc diện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa L đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời hạn từ 16 tháng đến 18 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp, Thẩm phán cũng như những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Mức đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E là có căn cứ.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có trụ sở tại địa bàn huyện E, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về thời hiệu: Ngày 20/6/2022 UBND thị trấn D, huyện E đã lập biên bản đối với Trần Đức L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian cai nghiện tự nguyện, đến ngày 28/6/2021 Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E có Công văn số 243/LĐN-CCBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện E xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần Đức L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung: Xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì L là người nghiện ma túy, hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy trái phép. Kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của L cho đến khi hồ sơ được chuyển sang Tòa án, các cơ quan chức năng đã thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Cụ thể, qua xét nghiệm của Cơ quan y tế kết luận thì L là người nghiện ma túy, UBND thị trấn D lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép. Vì vậy, Trần Đức L thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; điểm c khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Xét tính chất mức độ hành vi của Trần Đức L trong việc sử dụng ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Tuy nhiên, sau khi lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, L đã tự nguyện khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị, của đại diện Phòng lao động Thương binh & Xã hội huyện E đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Đức L là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điểm c khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Đức L, sinh năm 1987.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: Thôn 4, xã Tân Tiến, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 tháng (Mười sáu tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Phòng Lao động thương binh & xã hội huyện E có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện E có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện E có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk. - VKSND huyện E. - Phòng LĐTB&XH huyện E. - Công an huyện E. - Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk - UBND TT D. - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN Đỗ Xuân Cường |