vanban.org

Quyết định 189/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Bà Trần Ngọc A về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979.

Tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979, giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T là người mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Ngọc A chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự nhưng được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Bà Trần Ngọc A về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Phước T2 là người mât năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Bà Trần Ngọc A về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 189/2020/QĐST-VDS
Bình Chánh, ngày 09 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Hồ Thị Thanh Loan

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Mỹ Phúc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Bình Chánh tham gia phiên họp: Bà Phan Mỹ Dung – Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện huyện Bình Chánh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 23/2020/TLST-VDS ngày 13 tháng 01 năm 2020 về việc: yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐST-VDS ngày 26 tháng 5 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Ngọc A, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: D8/22 đường Tân Túc, khu phố 4, thị trấn T, huyện H, Thành phố T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần T, sinh năm: 1960.

Địa chỉ: D7/35 khu phố 4, thị trấn T, huyện H, Thành phố T;

2. Bà Trần Dục M, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: F8/8 khu phố 4, thị trấn T, huyện H, Thành phố T;

3. Bà Trần Dục K, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: D8/14 khu phố 4, thị trấn T, huyện H, Thành phố T.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp hôm nay Bà Trần Ngọc A (người yêu cầu giải quyết việc dân sự) trình bày:

Cha của bà tên là Trần Tu H, đã chết năm 2014. Mẹ của bà tên là Ngô Thị H1, đã chết năm 1991. Cha mẹ bà có sinh 6 (sáu) người con là: Ông Trần T, Bà Trần Dục M, Bà Trần Dục K, ông Trần Minh T1, Bà Trần Ngọc A, ông Trần Phước T2. Ông Trần Minh T1 đã chết.

Ông Trần Phước T2 (em trai của bà) bị tai nạn giao thông rất nặng. Sau khi điều trị khỏi, lại xảy ra nhiều biến chứng dẫn đến bệnh tai biến mạch máu não, ông Tòng không còn khả năng đi lại, không còn tự có thể chăm sóc cho bản thân, bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình trong giao tiếp. Nhằm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông Trần Phước T2 trong quá trình giải quyết phân chia tài sản chung liên quan đến quyền sở hữu tài sản chung đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 372234, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 170/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 04/4/2002, cũng như để tiện lợi trong việc quản lý tài sản cho ông Tòng về sau. Nay Bà Trần Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979, giới tính: nam ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T là người bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tại bản tự khai và đơn xin vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Trần T, Bà Trần Dục M, Bà Trần Dục K trình bày:

Cha mẹ của các ông bà là ông Trần Từ Huy và bà Ngô Thị H1 đều đã chết. Các anh chị em gồm có: Ông Trần T, Bà Trần Dục M, Bà Trần Dục K, ông Trần Minh T1, Bà Trần Ngọc A, ông Trần Phước T2. Ông Trần Minh T1 đã chết. Ông Trần Phước T2 bị tai nạn giao thông rất nặng. Sau khi điều trị khỏi, lại xảy ra nhiều biến chứng dẫn đến bệnh tai biến mạch máu não, ông Tòng không còn khả năng đi lại, không còn tự có thể chăm sóc cho bản thân, bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình trong giao tiếp. Nay Ông Trần T, Bà Trần Dục M, Bà Trần Dục K thống nhất với việc Bà Trần Ngọc A tuyên bố ông Trần Phước T2 là người bị mất năng lực hành vi dân sự. Vì bận công việc nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, cam kết không khiếu nại gì đối với việc vắng mặt của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

Ông Trần Tu H (đã chết năm 2014) và bà Ngô Thị H1 (đã chết năm 1991) có 06 (sáu) người con: gồm Ông Trần T, Bà Trần Dục M, Bà Trần Dục K, ông Trần Minh T1, Bà Trần Ngọc A, ông Trần Phước T2. Ông Trần Minh T1 đã chết. Theo lời trình bày của Bà Trần Ngọc A, Ông Trần T, Bà Trần Dục M và Bà Trần Dục K trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc thì: ông Trần Phước T2 bị tai nạn giao thông rất nặng. Sau khi điều trị khỏi, lại xảy ra nhiều biến chứng dẫn đến bệnh tai biến mạch máu não, ông Tòng không còn khả năng đi lại, không còn tự có thể chăm sóc cho bản thân, bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình trong giao tiếp.

Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1158/KLGĐ ngày 23/3/2020 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Thành phố T kết luận ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979, Địa chỉ: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T có nội dung kết luận như sau:

- Về y học: Đương sự: Hội chứng sau chấn động não, giai đoạn sa sút sau chấn thương (F02.8-ICD10)

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Từ những nhận định trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu của Bà Trần Ngọc A về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Phước T2, , sinh năm: 1979, giới tính: Nam, Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T là người mất năng lực hành vi dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 361, 366, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự;

- Chấp nhận yêu cầu của Bà Trần Ngọc A về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979. Địa chỉ: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T là người mất năng lục hành vi dân sự:

Tuyên bố ông Trần Phước T2, sinh năm: 1979, giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: D8/22 Tân Túc, khu phố 4, huyện H, Thành phố T là người mất năng lực hành vi dân sự.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Ngọc A chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà Bà Trần Ngọc A đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0079195 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố T. Bà Trần Ngọc A đã nộp đủ lệ phí

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ