- Tranh chấp gì? "Lý Ha Tư"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2025/QĐ-TA | Mường Tè, ngày 16 tháng 06 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ.
Với thành phần phiên họp gồm có:
- Thẩm phán chủ trì phiên họp, ông: Lò Xuân Hải
- Thư ký phiên họp, ông: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L.
- Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L. Tiến hành phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 18/2025/QĐ-TA ngày 09/06/2025, đối với người bị đề nghị:
- Họ và tên: Lý Ha T - Giới tính: Nam - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày 25/12/1987; nơi sinh: huyện M, tỉnh L; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh L; số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu 012087000898; dân tộc: Hà Nhì; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ đào tạo: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án; tiền sự: Không; Con ông Lý Nhù G, sinh năm 1957 (đã chết năm 2024) và con bà Lỳ Gạ X, sinh năm 1960; vợ Vàng Gạ X, sinh năm 1994; con, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, được cơ quan có thẩm quyền xác định là nghiện ma túy.
Có sự tham gia của:
- Cơ quan đề nghị: Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Người đại diện, ông: Lý Mạnh C - Chức vụ: Trưởng Công an xã C - Có mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh L, tham gia phiên họp, ông: Nguyễn Kiến T - Kiểm sát viên - Có mặt.
- Người bị đề nghị: Lý Ha T - Có mặt.
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị và tại phiên họp, ông Lý Mạnh C, đại diện cơ quan đề nghị trình bày hồ sơ đề nghị:
- Ngày 26/06/2024, Công an xã C, huyện M, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm đối với Lý Ha T, vẫn thường xuyên gặp gỡ với các đối tượng nghiện chất ma túy ở các bản địa bàn xã C, nghi có sử dụng trái phép chất ma túy.
- Cùng ngày 26/06/2024, Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Tiến hành lập biên bản ghi lời khai, biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số: 26/BB-CAX. Quá trình làm việc, Lý Ha T, thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít.
- Đến ngày 27/06/2024, Công an xã C, huyện M, tiến hành xét nhiệm chất ma túy đối với Lý Ha T. Kết quả xác định trong mẫu nước tiểu của Lý Ha T dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Đồng thời yêu cầu Lý Ha T viết bản tường trình, tại bản tường trình Lý Ha T thừa nhận bản thân đã sử chất ma túy từ năm 2020. Cùng ngày Công an xã C, huyện M, tỉnh L, gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lý Ha T.
- Cùng ngày 27/06/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L. Ra Quyết định số: 136/QĐ-UBND, về việc Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lý Ha T, là 01 năm, kể từ ngày 27/06/2024 đến ngày 27/06/2025.
- Đến ngày 28/06/2024, Công an xã C, huyện M, lập kế hoach số: 26/KH-CAX, về việc quản lý đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lý Ha T, yêu cầu người bị quản lý cam kết không được vi phạm bất cứ hành vi vi phạm pháp luật hoăc liên quan đến tội phạm ma túy.
- Từ ngày 16/07/2024 đến các ngày 21/08/2024, ngày 20/09/2024, ngày 19/10/2024, ngày 18/11/2024 và ngày 21/12/2024, Công an xã C, huyện M, lập các biên bản kiểm tra cư trú; biên bản làm việc và biên bản tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, nhắc nhở Lý Ha T nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
- Đến ngày 21/01/2025 Công an xã C, huyện M, lập báo cáo về người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lý Ha T.
- Đến ngày 20/02/2025, ngày 19/03/2025 và ngày 14/04/2025, Công an xã C, huyện M, lập các biên bản kiểm tra cư trú và biên bản tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, động viên, nhắc nhở Lý Ha T nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
- Đến ngày 10/05/2025, Công an xã C, huyện M, tiến hành xét nhiệm chất ma túy đối với Lý Ha T. Kết quả xác định trong mẫu nước tiểu của Lý Ha T dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Đồng thời lập biên bản vi phạm hành chính số: 02/BBVPHC về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội đối với Lý Ha T đã có hành vi vi phạm hành chính sử dụng trái phép chất ma túy.
- Đến ngày 11/05/2025, Công an xã C, huyện M, lập biên bản làm việc và biên bản ghi lời khai đối với Lý Ha T, quá trình làm việc Lý Ha T thừa nhận bản thân mình vẫn sử dụng chất ma túy.
- Cùng ngày 11/05/2025, Công an xã C, huyện M, ra Thông báo số: 12/TB-CAX, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lý Ha T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/05/2025 của Trung tâm y tế huyện M, tỉnh L: Ông Lý Ha T nghiện ma túy. Đồng thời ra Thông báo số: 13/TB-CAX về tình trạng nghiện ma túy đối với Lý Ha T.
- Cùng ngày 16/05/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L. Ra quyết định số: 118/QĐ-UBND, về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lý Ha T, kể từ ngày 16/05/2025.
- Đến ngày 26/05/2025, Công an xã C, huyện M cùng với Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L. Lập biên bản làm việc xác định Lý Ha T, không có đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hay đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, từ ngày 16/05/2025 đến ngày 26/05/2025, tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L.
- Cùng ngày 26/05/2025, Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L. Lập biên bản vi phạm số: 02/BB-VPHC, về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lý Ha T. Đã có các hành vi vi phạm không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, sau khi được thông báo về tình trạng nghiện, vi phạm điểm a, d khoản 1 Điều 33 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy.
- Cùng ngày 26/05/2025, Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Ra thông báo số: 14/TB-CAX, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập biên bản về việc đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Ha T.
- Đến ngày 30/05/2025, Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Ra Quyết định số: 02/QĐ-CAX về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Ha T, kể từ ngày 30/05/2025.
- Cùng ngày 30/05/2025, Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Ra đề nghị số: 01/ĐN- CAX, về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Ha T.
- Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Công an xã C, huyện M, tỉnh L. Đề nghị đưa Lý Ha T, vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh L, với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.
- Tại phiên họp hôm nay. Người bị đề nghị Lý Ha T thừa nhận bản thân mình là người nghiện chất ma túy và hoàn toàn đồng ý, nhất trí với ý kiến đề nghị của cơ quan đề nghị, không khiếu nại hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị, không có ý kiến gì trình bày, tranh luận về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bản thân mình.
Tại phiên họp hôm nay. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, phát biểu ý kiến:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán, thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thụ lý hồ sơ, mở phiên họp đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Ha T theo quy định tại Điều 3; Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 12; Điều 13 và Điều 17 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Thẩm phán, thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục phiên họp theo quy định tại Điều 21 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia phiên họp:
- Đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị. Đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 18; Điều 19; Điều 20 của pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
3. Việc áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
- Về thời hiệu áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đảm bảo đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đảm bảo đúng quy định tại các Điều 40; Điều 41; Điều 42 và Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không những ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
+. Tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị Lý Ha T, đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm pháp luật của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
+. Tình tiết tăng nặng: Người bị đề nghị Lý Ha T, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
4. Về áp dụng pháp luật:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 105; Điều 107; Điều 108; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 1 Điều 33; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 3, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/03/2025 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
- Đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lý Ha T, trong thời hạn 12 (mười hai) tháng.
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung phiên họp, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được tranh tụng tại phiên họp, Thẩm phán chủ tọa phiên họp nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lý Ha T. Đảm bảo đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 103, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không những ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và hành vi vi phạm pháp luật khác.
. Về sự cần thiết áp dụng biện pháp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hành vi sử dụng chất ma túy của Lý Ha T đã gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình và xã hội cần phải loại trừ, đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng trong thời gian quản lý thì Lý Ha T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy mà không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng cũng không đăng ký cai nghiện hay đăng ký tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh L, đã được gia đình động viên cai nghiện, nhưng vẫn còn nghiện chất ma túy. Xét thấy không thể tiếp tục quản lý, giáo dục tại địa phương. Do vậy cần phải đưa Lý Ha T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cai nghiện, trở thành người công dân tốt và cũng là để răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong tương lai.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị Lý Ha T, đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
. Về tình tiết tăng nặng: Người bị đề nghị Lý Ha T. Không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
. Về nhân thân của người bị đề nghị: Từ nhỏ Lý Ha T, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 09/12, lớn lên ở nhà làm nghề lao động tự do, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định tại: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh L, chưa có tiền án, tiền sự gì.
. Về mức độ nhận thức: Người bị đề nghị Lý Ha T, là người sử dụng chất ma túy, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. tuy nhiên đã sử dụng chất ma túy nhiều lần nên trở thành nghiện. Mong muốn được đi cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
. Về ý kiến của người tham gia phiên họp, nhận thấy: Người bị đề nghị Lý Ha T. Không khiếu nại hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập hồ sơ đề nghị, không có ý kiến gì tranh luận đối với ý kiến của Cơ quan đề nghị và của Kiểm sát viên. Do vậy ý kiến của cơ quan đề nghị và của kiểm sát viên tại phiên họp là có cơ sở đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 105; Điều 107; Điều 108; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 1 Điều 33; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 3, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 7 và khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/03/2025 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy.
Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh L, đối với người bị đề nghị: Lý Ha T - Sinh ngày 25/12/1987 - Giới tính: Nam - Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh L.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy, tỉnh L là: 12 (mười hai) tháng. Kể từ ngày người bị đề nghị bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Lý Ha T. Bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện ma túy.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Người bị đề nghị Lý Ha T có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Kiến nghị của cơ quan đề nghị; Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã C, huyện M, tỉnh L và Cơ sở cai nghiện ma túy, tỉnh L.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - CSCNMT tỉnh L; - VKSND huyện M; - Công an xã C; - UBND xã C; - Người bị đề nghị Lý Ha T; - Lưu hồ sơ T.A. | THẨM PHÁN (Đã ký) Lò Xuân Hải |