- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu Phạm Thị KIm R"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Phạm Thị Kim R.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 18/2024/QĐST-LĐ QUYẾT ĐỊNH | Tân Uyên, ngày 25 tháng 6 năm 2024 |
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc Lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 27/2024/TLST-VLĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 27/2024/QĐST-LĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Phạm Thị Kim R, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Tổ A, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH V; địa chỉ: khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh tỉnh Bình Dương; Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Dương Thị Yến N, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Số nhà A, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bảo hiểm Xã hội thành phố T; Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Phạm Thị Kim R trình bày: Từ khoảng tháng 11/2007 đến tháng 12/2008 bà Phạm Thị Kim R làm việc tại Công ty J; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và có tham gia bảo hiểm xã hội. Từ khoảng tháng 03/2012 đến tháng 9/2012 bà Phạm Thị Kim R chuyển sang làm việc tại Công ty TNHH V1; địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và có tham gia bảo hiểm xã hội. Từ tháng 9/2013 đến tháng 02/2014, bà Phạm Thị Kim R làm việc tại Công ty TNHH Y, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và có tham gia bảo hiểm xã hội. Từ tháng 11/2014 đến tháng 8/2022, bà Phạm Thị Kim R làm việc tại Công ty TNHH N1, địa chỉ: A, 1-2B1, 1-3&9-10H1 Khu công nghiệp T, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và có tham gia bảo hiểm xã hội. Sau khi bà R nghỉ việc và có đến Bảo hiểm xã hội Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để làm thủ tục nhận bảo hiểm thất nghiệp và Bảo hiểm xã hội một lần nhưng được Bảo hiểm xã hội thông báo bà R có hai sổ bảo hiểm xã hội và bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008, cụ thể như sau:
- Sổ mang số 0207426170 thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2007 đến tháng 12/2008 do Bảo hiểm xã hội Thành phố H cấp.
- Sổ mang số 9107198907 thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008 do Bảo hiểm xã hội huyện T (nay là thành phố T) tỉnh Bình Dương cấp (Do Công ty TNHH V đóng).
Bà R bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2007 đến tháng 3/2008 vì trong khoảng thời gian tháng 9/2007, bà Dương Thị Yến N là em họ của bà R có mượn giấy chứng minh nhân dân của bà R để làm hồ sơ xin việc tại Bình Dương (Thời gian này bà N chưa đủ tuổi lao động).
Do đó, bà R yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu sau:
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa bà Phạm Thị Kim R với Công ty TNHH V2 vô hiệu toàn bộ do lừa dối, không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Yến N trình bày: Bà N và bà R có quan hệ chị em họ. Năm 2007, bà N chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà R để xin vào làm việc tại Công ty TNHH V và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2007 đến tháng 03/2008 thì nghỉ việc. Nay, bà N thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà R và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà R và Công ty TNHH V (Thời gian làm việc từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008) bị vô hiệu. Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến bà trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Phạm Thị Kim R, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx được Công ty TNHH V tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 9107198707 từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Chưa hưởng BHXH một lần, chưa hưởng BHTN. Về các yêu cầu của bà Phạm Thị Kim R, Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương không có ý kiến, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH V trình bày:
Qua kiểm tra, rà soát người lao động Phạm Thị Kim R, sinh năm 1989 làm việc tại Công ty TNHH V từ tháng 12/2007 đến tháng 3/2008 thì nghỉ việc. Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà Phạm Thị Kim R với số sổ bảo hiểm xã hội là 9107198707 tại bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương với mức lương 790.000 đồng vào tháng 12/2007 và 963.000 đồng từ tháng 01/2008 đến tháng 3/2008.
Lúc nộp hồ sơ xin việc tại công ty bà Phạm Thị Kim R có nộp kèm hồ sơ xin việc với năm sinh 1989. Hồ sơ xin việc của bà R hợp lệ nên Công ty đã nhận bà R vào làm việc. Do hình ảnh trên chứng minh nhân dân chụp đã lâu nên nhân sự tại thời điểm đó không nhận biết sự khác nhau. Bên cạnh đó, Công ty đã trải qua nhiều đời nhân sự nên đã thất lạc hồ sơ trong đó có hợp đồng lao động của bà R. Do đó, Công ty TNHH V đồng ý với yêu cầu của bà R tuyên bố hợp đồng lao động trên là vô hiệu.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phạm Thị Kim R và Công ty TNHH V (Thời gian làm việc từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008) bị vô hiệu của người yêu cầu bà Phạm Thị Kim R là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất:
Bà Phạm Thị Kim R, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx được Công ty TNHH V tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 9107198707 từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Chưa hưởng BHXH một lần, chưa hưởng BHTN. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH V và bà Phạm Thị Kim R phát sinh từ hợp đồng lao động từ tháng 9/2007 đến tháng 3/2008. Tuy nhiên, bà R và bà N thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH V và thực tế làm việc tại công ty là bà N chứ không phải bà R. Do bà N chưa đủ tuổi làm chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động nên bà R đã cho bà N mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà R và bà N phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 9/2007 đến tháng 03/2008 bà R có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH V và Công ty J.
[2.2] Xét thấy, việc bà N sử dụng chứng minh nhân dân của bà R để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH V là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
[2.3] Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà R bị trùng từ tháng 9/2007 đến tháng 03/2008. Do đó, bà R yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH V với bà R từ tháng 9/2007 đến tháng 03/2008 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
[4] Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về lệ phí: Bà Phạm Thị Kim R phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Phạm Thị Kim R.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phạm Thị Kim R, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang với Công ty TNHH V trong thời gian làm việc từ tháng 9/2007 đến tháng 03/2008 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Phạm Thị Kim R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001408 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Mỹ Trúc |