vanban.org

Quyết định 18/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 20/03/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Bùi Thị M ký) trong thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 là vô hiệu toàn bộ. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Điều chỉnh thông tin nhân thân số sổ bảo hiểm xã hội 3409007072, từ Nguyễn Thị Kim H, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Bùi Thị M1 - Công ty E"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 51 Bộ luật Lao động; Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2024/QĐST-LĐTP. Thái Bình, ngày 16 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Ông Lại Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 19/2024/TLST-LĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 23/2024/QĐ-MPH ngày 09 tháng 12 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Bảo hiểm xã hội tỉnh T;

Địa chỉ: Số G, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Giám đốc.

2.2. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990;

Nơi cư trú: Thôn Ô, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Ông T, chị M, chị H đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai, chị Bùi Thị M trình bày: Năm 2008, chị có ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E (Công ty TNHH E1), công việc chính là công nhân sản xuất điện tử. Tuy nhiên, do khi đó chưa đủ tuổi lao động và không hiểu biết pháp luật, chị đã mượn chứng minh nhân dân của chị họ chị là Nguyễn Thị Kim H để ký hợp đồng lao động với Công ty. Mặc dù trên thực tế chị là người ký hợp đồng và làm việc tại Công ty nhưng trên hợp đồng lao động giữa chị và Công ty N tên là Nguyễn Thị Kim H và số sổ bảo hiểm chị đóng thời gian này mang tên chị họ chị là Nguyễn Thị Kim H, số sổ bảo hiểm là 3409007072. Chị đã làm việc tại Công ty từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009, tổng thời gian làm việc và đóng bảo hiểm xã hội là 13 tháng. Do Công ty P nên chị đã được giải quyết hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần với số tiền 1.441.938 đồng. Thời gian này, chị H làm việc tại Chi nhánh Công ty cổ phần S và được đóng bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm xã hội 3409009310. Đến nay chị H làm thủ tục thanh toán hưởng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp với số sổ bảo hiểm là 3409009310 thì được Cơ quan bảo hiểm trả lời chị H bị trùng trong quá trình đóng bảo hiểm ở Công ty TNHH E1 từ tháng 9/20028 đến tháng 9/2009 là 13 tháng, số bảo hiểm là 3409007072 do vậy bảo hiểm xã hội chưa xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm cho chị H. Nay chị M yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa chị Bùi Thị M (bằng tên của chị họ chị là chị Nguyễn Thị Kim H) và Công ty TNHH E1 trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội tỉnh T trình bày: Thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế , bảo hiểm thất nghiệp của chị Nguyễn Thị Kim H từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 tại Công ty TNHH E theo sổ BHXH số 3409007072 là 01 năm 01 tháng BHXH, BHYT và 00 năm 09 tháng BHTN (đã lĩnh bảo hiểm xã hội một lần). Tổng số tiền đã đóng BHXH, BHYT và BHTN là 2.995.200 đồng, trong đó người sử dụng lao động 2.171.680 đồng, người lao động đóng 823.520 đồng. BHXH tỉnh không có hồ sơ tham gia cũng như không thu BHXH, BHYT, BHTN thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 tại Công ty TNHH E đối với chị Bùi Thị M. Việc cung cấp hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH E với chị Nguyễn Thị Kim H từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 do thời gian đã lâu, chuyển kho lưu trữ hồ sơ nhiều lần, gặp mưa bão dẫn đến hồ sơ bị ẩm mốc, mối mọt nên hiện nay BHXH tỉnh không lưu giữ hợp đồng lao động của người lao động. Mã số thuế của Công ty TNHH E: 1000444575 việc chị Bùi Thị M trình bày mượn hồ sơ của chị Nguyễn Thị Kim H để giao kết hợp đồng lao động và đóng BHXH, BHYT, BHTN; nay chị Bùi Thị M đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên bố lao động ký kết giữa chị Bùi Thị M (nhưng lấy tên là Nguyễn Thị Kim H) với Công ty TNHH E trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 vô hiệu, BHXH tỉnh T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử lý theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Cuối năm 2008, em chị là Bùi Thị M ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E, công việc là công nhân điện tử. Đến tháng 9/2009 thì chị M nghỉ việc tại Công ty. Do chị không hiểu biết pháp luật nên chị đã cho chị M mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty TNHH E và ký hợp đồng lao động và đóng BHXH trên tên chị là Nguyễn Thị Kim H, số sổ 3409007072, sau đó chị M đã làm thủ tục hưởng trợ cấp ngày 14/10/2010 để hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 01 lần, số tiền hưởng là 1.441.938 đồng. Thời gian này, chị làm việc tại Chi nhánh Công ty Cổ phần S và được đóng bảo hiểm xã hội với số sổ bảo hiểm xã hội 3409009310, đến năm 2019 chị nghỉ việc tại Công ty cổ phần S. Khi làm thủ tục thanh toán chế độ bảo hiểm xã hội, chị được Bảo hiểm xã hội thông báo ngoài sổ bảo hiểm xã hội số 3409009310, chị còn 01 sổ bảo hiểm xã hội số 3409007072, thời gian đóng từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009, do đó, chị không thể làm thủ tục thanh toán bảo hiểm xã hội. Vì vậy đối với việc chị Bùi Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa chị Bùi Thị M và Công ty TNHH E1 trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật chị hoàn toàn đồng ý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:

Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình căn cứ vào Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 15, Điều 50, Điều 51 Bộ luật Lao động 2019, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa chị Bùi Thị M (bằng tên của chị họ chị là chị Nguyễn Thị Kim H) và Công ty TNHH E1 trong thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 vô hiệu, giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh hồ sơ cho phù hợp để đảm bảo, giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người lao động ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH E, có địa chỉ trước khi chấm dứt hoạt động tại Khu công nghiệp N, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 401 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

[2]. Áp dụng pháp luật: Do hợp đồng lao động ký giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Bùi Thị M ký) vào năm 2008 nên áp dụng Bộ luật Lao động năm 1994 để giải quyết. Tuy nhiên Bộ luật Lao động năm 1994 không có điều luật quy định về hợp đồng lao động vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng lao động vô hiệu, do đó cần áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 để giải quyết.

. Về nội dung:

. Xét thấy việc chị Bùi Thị M mượn giấy tờ của chị Nguyễn Thị Kim H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, do đó yêu cầu của chị Bùi Thị M là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M, tuyên bố hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Bùi Thị M ký) trong thời gian từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 09 năm 2009 là vô hiệu toàn bộ.

. Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ: Xét thấy mặc dù có sự lừa dối khi ký kết hợp đồng lao động giữa chị Bùi Thị M (hồ sơ mượn tên chị Nguyễn Thị Kim H) với Công ty TNHH E nhưng trên thực tế chị M có làm việc tại công ty, có đóng bảo hiểm xã hội và quá trình làm việc công ty có đóng bảo hiểm cho chị M (mang tên chị Nguyễn Thị Kim H, số sổ bảo hiểm xã hội 3409007072). Khi chị M nghỉ việc đã được cơ quan Bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần đối với thời gian làm việc và đóng bảo hiểm tại Công ty, số tiền trợ cấp là 1.441.938 đồng. Về phía cơ quan Bảo hiểm xã hội cũng không có yêu cầu cụ thể về việc chị Bùi Thị M phải thoái thu số tiền đã đóng bảo hiểm xã hội. Do đó, cần giao cho các cơ quan chức năng có liên quan đến hợp đồng lao động đã ký giữa chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Bùi Thị M ký) với Công ty TNHH E điều chỉnh hồ sơ cho phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Do vậy cần điều chỉnh tên Nguyễn Thị Kim H trên sổ bảo hiểm xã hội số 3409007072 thành Bùi Thị M. Chị Bùi Thị M và chị Nguyễn Thị Kim H có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin từ Nguyễn Thị Kim H thành Bùi Thị M.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 401, Điều 402, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M.

1. Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH E và chị Nguyễn Thị Kim H (do chị Bùi Thị M ký) trong thời gian từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009 là vô hiệu toàn bộ.

2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Điều chỉnh thông tin nhân thân số sổ bảo hiểm xã hội 3409007072, từ Nguyễn Thị Kim H, sinh ngày 05/6/1990, số Chứng minh nhân dân xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 31/7/2006 thành Bùi Thị M, sinh ngày 06/9/1992, Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/5/2024. Chị Nguyễn Thị Kim H và chị Bùi Thị M có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Nguyễn Thị Kim H thành Bùi Thị M.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị M đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001456 ngày 17/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình thành tiền lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Bùi Thị M, chị Nguyễn Thị Kim H, Bảo hiểm xã hội tỉnh T có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định này.

Cỡ chữ