- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truong Huynh Duc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 177/2021/HSST Ngày: 27/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Sơn Tùng
2. Bà Nguyễn Hải Yến
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 173/2022/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H., sinh năm 1991
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 164 T, T10, Phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Duy S, con bà Huỳnh Thị H; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 07/6/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Ngày 28/5/2022, H đi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội để làm việc. Sáng ngày 01/6/2022, H một mình đi đến khu vực gần Cầu Chương Dương, thành phố Hà Nội mua 1.200.000 đồng ma túy gồm “Cần sa”, “thuốc lắc”, “đá” để sử dụng cho bản thân. H cất số ma túy trên vào túi xách tay rồi đến Sân bay Quốc tế Nội Bài làm thủ tục vào TP Hồ Chí Minh. Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, tại nhà Ga T1, Sân bay Quốc tế Nội Bài, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, H đang làm thủ tục bay thì bị Tổ công tác An ninh hàng không phối hợp với Công an huyện Sóc Sơn phát hiện tạm giữ người cùng tang vật gồm:
- 01 túi nilon kích thước 4,7x3,7 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 túi nilon kích thước 3,5x4 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 túi nilon kích thước 4,2x3,3 cm bên trong chứa 02 viên nén màu xanh;
- 01 túi nilon kích thước 11,3x3,3 cm bên trong chứa thảo mộc khô;
- 01 túi nilon kích thước 6x5 cm bên trong chứa thảo mộc khô.
Xét nghiệm nước tiểu của TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. phản ứng dương tính với ma túy tổng hợp.
Kết luận giám định số 3703/KL- KTHS ngày 09/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,432gam; 02 viên nén màu xanh trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 0,806 gam; Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilon không tìm thấy chất ma túy, tổng khối lượng 3,330gam.
Về nguồn gốc số tiền 1.200.000 đồng mua ma túy H khai là tiền do lao động mà có. Đối với người bán ma túy cho H tại khu vực gần Cầu Chương Dương, thành phố Hà Nội, do H không quen biết, lần đầu gặp mặt, không thể nhận ra khi gặp lại nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Quá trình điều tra, TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
[2]. Tại bản cáo trạng số 161/CT - VKS ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Xử phạt TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. từ 15 đến 18 tháng tù.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. và Giám định viên.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 01/6/2022, tại nhà Ga T1, Sân bay Quốc tế Nội Bài, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. có hành vi tàng trữ 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,432gam; 02 viên nén màu xanh trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 0,806 gam, sau đó đã bị kiểm tra, thu giữ.
Theo Điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội quy định: “Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.”.
Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:
…5. Chất ma tuý…”.
Như vậy, trong trường hợp chất thu giữ đã được xác định là ma túy dạng MDMA, Methamphetamine và Ketamine thì không thuộc trường hợp phải giám định hàm lượng.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
“Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
i, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
Bản thân bị cáo là người bị nhiễm căn bệnh HIV phải điều trị nhiều năm nay thể hiện hoàn cảnh khó khăn của bản thân bị cáo.
Đối với 02 viên nén màu xanh có tổng khối lượng 0,806 gam, kết quả giám định xác định trong đó có tổng hợp thành phần của 03 loại ma túy là Methamphetamine, MDMA và Ketamine. Theo quy định của pháp luật, chất ma túy ở thể rắn thì không phải giám định hàm lượng của từng chất ma túy. Tuy nhiên, trong trường hợp này vật chứng thu giữ là chất ma túy ở thể rắn hợp thành từ nhiều chất ma túy ở thể rắn khác nhau và các chất ma túy thành phần không cùng quy định trong cùng một điểm của điều luật, ma túy Methamphetamine, MDMA được quy định tại Điểm c còn ma túy Ketamine được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và lượng ma túy tàng trữ khởi điểm quy định tại Điểm g cao hơn gấp 10 lần lượng ma túy tàng trữ khởi điểm quy định tại điểm c, do vậy khi không xác định được khối lượng từng chất ma túy thành phần thì vận dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo là người nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV và sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực gần Cầu Chương Dương, thành phố Hà Nội, do bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, lần đầu gặp mặt, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
. Xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý (thu giữ của bị cáo) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: TRƯƠNG HUỲNH ĐỨC H. 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2022 đến ngày 07/6/2022.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý Methaphetamine, MDMA và Ketamine thu giữ của bị cáo, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 25/9/2022 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Nguyệt
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Công an huyện Sóc Sơn; - THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu HS, VP. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Bích Nguyệt |