- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Lê Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Lê Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 27 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Ngọc Công.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 41/2024/TLST-VLĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 12/2024/QĐST-VDS ngày 20 tháng 3 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị H, sinh năm 1978; thường trú: Số D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trịnh Thị Thúy N, sinh năm 2001; địa chỉ: Số A, đường E, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 13/12/2023); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị T, sinh năm 1972; thường trú: Tổ E, ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH A; địa chỉ: Số B, đường Đ, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông SHIH CHI YI; chức vụ: Giám đốc; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, chức vụ: Tổ trưởng Tổ quản lý T2 – Sổ bảo hiểm xã hội thành phố D, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại đơn yêu cầu ngày 23/02/2024 và quá trình giải quyết việc dân sự, người đại diện hợp pháp của yêu cầu là bà Trịnh Thị Thúy N trình bày:
Từ tháng 10/2006 đến tháng 7/2021, bà Lê Thị H làm việc tại Công ty TNHH E, địa chỉ số G Đại lộ T, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương và đóng BHXH số 9106190317.
Nay bà H tiếp hành nộp hồ sơ BHXH thì BHXH thành phố Dĩ An rà soát và phát hiện hồ sơ BHXH của bà H bị trùng.
Lý do trùng bảo hiểm vì: Vào tháng 01/2003, bà H có cho chị gái là bà Lê Thị T mượn chứng minh nhân dân của bà H. Bà T đã dùng thông tin cá nhân của bà H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A; địa chỉ: Số B, đường Đ, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương mà bà H không hề hay biết. Đến tháng 10/2006 bà H giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E và làm việc đến tháng 7/2021 thì nghỉ việc. Do đó, bà H bị trùng thời gian tham gia BHXH từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014 (tương đương với thời gian bà Lê Thị T mượn hồ sơ lao động của bà H để giao kết hợp đồng với Công ty TNHH A.
Bà H nhiều lần liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố D thì được hướng dẫn đến Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để tuyên bố hợp đồng vô hiệu đối với hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị T với Công ty TNHH A theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L.
Thời điểm năm 2003, bà Lê Thị T mượn Chứng minh nhân dân của bà H. Bà H và bà T là chị em với nhau nên bà H tin tưởng và cho bà T mượn CMND. Bà T lấy thông tin cá nhân của bà H để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A, đến nay bà H liên hệ với BHXH thành phố Dĩ An thì mới biết hồ sơ BHXH của bà H bị trùng.
Do đó, bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động (từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014) được ký kết giữa chị Lê Thị H với Công ty TNHH A là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH A trình bày: Công ty có ký hợp đồng lao động và đóng BHXH cho bà Lê Thị H trong khoảng thời gian từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014. Vì bà H đã nghỉ việc tại công ty quá lâu nên toàn bộ hồ sơ dữ liệu không còn lưu trữ. Khi vào làm việc tại công ty, toàn bộ thông tin là bà Lê Thị H cung cấp cho công ty nên công ty chỉ làm đúng những gì được cấp nên Công ty TNHH A đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D do ông Dương Văn T1 đại diện trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của Công ty TNHH A cho người lao động thì Công ty TNHH A có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Lê Thị H, sinh ngày 04/02/1978, số CMND xxxxxxxxx, với mã số BHXH 9103013491 từ tháng 01/2003 đến tháng 3/2014, đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, qua kiểm tra dữ liệu bà Lê Thị H còn có mã số 9106190317 tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 10/2006 đến tháng 7/2021 tại Công ty TNHH E; địa chỉ số G Đại lộ T, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Lê Thị H, Bảo hiểm xã hội không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của bà Lê Thị H, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T trình bày:
Do lúc trước chưa hiểu rõ thông tin về đóng BHXH nên tháng 10/2006 bà T có mượn thông tin cá nhân của em gái tên Lê Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A; địa chỉ: Số B, đường Đ, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà T làm việc tại Công ty TNHH A từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014.
Tuy nhiên, trước khi bà T giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A thì em gái bà T (Lê Thị H) cũng đang sử dụng thông tin này để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E. Bà H làm việc tại Công ty TNHH E từ tháng 10/2006 đến tháng 7/2021. Do đó em gái bà T (bà H) liên hệ BHXH nộp hồ sơ BHXH thì nhận được thông báo là thông tin bảo hiểm bị trùng.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng Công ty Cổ phần S không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Yêu cầu của bà Lê Thị H là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị H có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty TNHH A; địa chỉ: Số B, đường Đ, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự người đại diện hợp pháp của người yêu cầu bà Trịnh Thị Thúy N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH A, bà Lê Thị T, Bảo hiểm xã hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục phiên họp.
Đối với yêu cầu của bà Lê Thị H xét thấy:
[2.1] Việc bà Lê Thị T mượn chứng minh nhân dân của bà Lê Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH A là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Lê Thị H bị trùng từ 10/2006 đến tháng 3/2014 tại Công ty TNHH A (theo mã số BHXH 9103013491).
Trình bày của bà Lê Thị H là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, phù hợp lời lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Lê Thị H với Công ty TNHH A (thời gian làm việc từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014) vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Lê Thị H phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Lê Thị H.
Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Lê Thị H với Công ty TNHH A (thời gian làm việc từ tháng 10/2006 đến tháng 3/2014) là vô hiệu.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004493 ngày 05/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
4. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Ngọc Công |