- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường An - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hạng Thị Giống phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật hình tố tụng; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 17/2024/HS-ST Ngày 20-11-2024 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công K vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường A, sinh ngày 16/11/2005, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Tiểu khu 13, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Xuân K, con bà Tạ Thị H;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công A huyện Mộc Châu từ ngày 11/10/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 45 phút ngày 11/10/2024, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu 6, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, tiến hành kiểm tra với Nguyễn Trường A đang đi bộ trên đường dân sinh, phát hiện A đang cất giấu trong người 01 gói ni lon màu xanh bên trong đựng 04 viên màu hồng, trên mỗi bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là ma túy loại Methamphetamine. A khai nhận đó là ma túy của A cất giấu để sử dụng, về nguồn gốc số ma túy mà có A khai , do nghiện ma túy nên 18 giờ ngày 1/10/2024, A đi bộ đến giáp ranh giữa tiểu khu 1 và tiểu khu 6, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi A gặp một người đàn ông không quen biết, A đã hỏi và mua được với người đàn ông đó 04 viên hồng phiến được gói bằng mảnh ni lon màu xanh với giá 200.000đ.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tAg niêm phong vật chứng, dẫn giải Nguyễn Trường A về Công A huyện Mộc Châu để điều tra xử lý.
Ngày 11/10/2024, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng 04 viên nén màu hồng nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Trường A có tổng khối lượng 0,40 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu ký hiệu “A” để trưng cầu giám định xác định có phải ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?.
Tại Kết luận giám định số 1950 ngày 14/10/2024 của phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,40 gam, loại Methamphetamine”. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,40 gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo giữ nguyên lời khai như trong quá trình bắt giữ.
Bản cáo trạng số 196/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Trường A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Nguyễn Trường A bắt ngày 11/10/2024 (đựng mảnh ni lon màu xAh và phong bì niêm phong bA đầu).
01 (một) chiếc phong bì thư do Công A huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Nguyễn Trường A, ngày 11/10/2024. Kết quả: Dương tính.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về hành vi: Ngày 11/10/2024, bị cáo Nguyễn Trường A đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,40 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo cất giấu, mục đích tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 11/10/2024, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình A ninh trật tự tại địa phương.
Xét về nhân thân thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị A tại địa phương. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời giA, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra, xác minh và xét hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Nguyễn Trường A bắt ngày 11/10/2024 (đựng mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu).
01 (một) chiếc phong bì thư do Công A huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Nguyễn Trường A, ngày 11/10/2024. Kết quả: Dương tính. Là vật không có giá trị và vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm với số ma túy nêu trên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 30 (Ba mươi) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 11/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Nguyễn Trường A bắt ngày 11/10/2024 (đựng mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu).
01 (một) chiếc phong bì thư do Công A huyện Mộc Châu phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy Nguyễn Trường A, ngày 11/10/2024. Kết quả: Dương tính.
Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Nguyễn Trường A bắt ngày 11/10/2024 (đựng mảnh ni lon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Sơn La;
- VKSND huyện Mộc Châu;
( Đã ký)
- Công A huyện Mộc Châu;
Đỗ Như Khánh
- Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Như Khánh
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Aễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 50 phút ngày 12/9/2024, tổ công tác Công A xã Lóng Sập làm nhiệm vụ tại bản Buốc QuAg, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Hạng Thị Giống đAg đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Giống đAg cất giấu trong túi quần bên phải 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Heroine. Giống K nhận đó là ma tuý của Giống cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Về nguồn gốc ma túy Giống K: Do nghiện ma túy, trưa ngày 12/9/2024 Giống đi lên bản Buốc QuAg, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu tìm mua ma túy về sử dụng, khi đAg đi trên đường thuộc bản Buốc QuAg thì Giống gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, hỏi mua được với người này 01 cục Heroine được gói bằng ni lon màu trắng với giá 30.000đ. Sau khi mua được Giống cất trong túi quần đi về thì bị phát hiện bắt giữ.
Căn cứ vào hành vi vi phạm của Hạng Thị Giống, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tAg, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Hạng Thị Giống bàn giao cho cơ quA cảnh sát Điều tra Công A huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.
Ngày 12/9/2024 cơ quA Cảnh sát điều tra Công A huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng có khối lượng là 0,22 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định mẫu có ký hiệu G.
Tại Kết luận giám định số 1844 ngày 16/9/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu G, là ma túy, loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,22 gam, tổng khối lượng thu giữ là 0,22 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra Hạng Thị Giống giữ nguyên lời K như trong quá trình bắt giữ.
Cáo trạng số …/CT-VKS ngày …10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cA Hạng Thị Giống về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại Aện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hạng Thị Giống phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hạng Thị Giống từ … tháng đến …. tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Hạng Thị Giống bắt ngày 12/9/2024 (đựng 01 mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong bA đầu).
01 (một) Chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Hạng Thị Giống ngày 12/9/2024. KQ: Âm tính.
3. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi Đại Aện Viện kiểm sát phát biểu quA điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại Aện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA Cảnh sát Điều tra Công A huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội dAh: Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời K như đã K tại cơ quA cảnh sát Điều tra Công A huyện Mộc Châu, không phát sinh tình tiết mới.
Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,22 gam Heroine, mục đích bị cáo mua về là để sử dụng, nên hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình A ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn K báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công K tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, gia đình không có tài sản gì có giá trị, không có khả năng thi Hạngnh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Hạng Thị Giống bắt ngày 12/9/2024 (đựng 01 mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong bA đầu).
01 (một) Chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Hạng Thị Giống ngày 12/9/2024. KQ: Âm tính. Xét thấy là vật không có giá trị sử dụng do đó căn cứ vào khoản 1 điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hạng Thị Giống. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử lý. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm với số ma túy nên trên.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hạng Thị Giống phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hạng Thị Giống ……………… tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Vật chứng còn lại vụ Hạng Thị Giống bắt ngày 12/9/2024 (đựng 01 mảnh ni lon màu trắng và phong bì niêm phong bA đầu).
01 (một) Chiếc phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: Test thử ma túy đối với Hạng Thị Giống ngày 12/9/2024. KQ: Âm tính.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Hạng Thị Giống.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Như Khánh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện KSND huyện Mộc Châu;
- Công A huyện Mộc Châu;
- Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
- Trại giam;
- THA HS;
- Bị cáo;
- Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
- Lưu hồ sơ.
Đỗ Như Khánh
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công A huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Như Khánh |