- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con giữa Đồng Thị H và Nguyễn Văn Ng"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2022/QĐST-HNGĐ Ngày: 08/4/2022 “V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Thư ký phiên họp:
Bà Đặng Ngọc Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 30/2022/TLST- HNGĐ ngày 03/3/2022, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 61/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu:
- Chị Đồng Thị H, sinh năm 1994
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn ĐL, xã AL, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện nay: TrH, ĐTr, Đài Loan.
- Anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1991.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn AX, xã QT, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện nay: TrH, ĐTr, Đài Loan.
* Người đại diện theo ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của anh Ng:
Anh Vũ Đình Th, sinh năm 1980; Địa chỉ: thôn ThTr, xã NTr, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: đội 5, thôn AX, xã QT, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
* Người đại diện theo ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của chị H:
Bà Khúc Thị M, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn ĐL, xã AL, huyện NS, tỉnh Hải Dương.
Chị H, anh Ng, anh Th, bà Đ và bà M đều đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn xin ly hôn của chị Đồng Thị H, anh Nguyễn Văn Ng, biên bản lấy lời khai của anh Vũ Đình Th, bà Lê Thị Đ, bà Khúc Thị M và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh Ng được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện NS, tỉnh Hải Dương vào ngày 28/10/2011. Sau khi kết hôn anh chị ở cùng bố mẹ chồng, sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đầu năm 2018, anh Ng sang Đài Loan làm để cải thiện tình hình kinh tế gia đình, khoảng 2 tháng sau thì chị H cũng sang Đài Loan làm, nhưng mỗi người làm ở một nơi. Hai vợ chồng mỗi người một nơi, cộng thêm việc đã có mâu thuẫn từ trước nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm gì đến nhau nữa, sống ly thân kể từ đó đến nay. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thảo Ch, sinh ngày 11/5/2014, các cháu hiện đang ở cùng anh Ng và đều có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở cùng anh Ng. Chị H, anh Ng thỏa thuận để anh Ng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con thành niên. Trong thời gian anh Ng chưa về nước mẹ anh Ng là bà Lê Thị Đ có trách nhiệm hỗ trợ anh Ng chăm sóc các cháu cho đến khi anh Ng về nước, bà Đ cũng có quan điểm nhất trí. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Ng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Hiện tại chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng đều đang ở Đài Loan. Các tài liệu gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền, bản sao sổ hộ chiếu của chị H, anh Ng đã được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xác nhận. Do điều kiện chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng không về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời chị Đồng Thị H ủy quyền cho bà Khúc Thị M, anh Nguyễn Văn Ng ủy quyền cho anh Vũ Đình Th thay mặt chị H, anh Ng giao nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, bà M và anh Th đều có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của chị H, anh Ng. Sau khi nhận thông báo thụ lý việc hôn nhân gia đình, bà M và anh Th đã thông báo cho chị H, anh Ng biết. Chị H, anh Ng vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn theo đơn yêu cầu của anh chị; Về con chung: Chị H và anh Ng thỏa thuận giao cả hai con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thảo Ch, sinh ngày 11/5/2014 cho anh Ng tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên, bà Lê Thị Đ là mẹ đẻ anh Ng sẽ có trách nhiệm hỗ trợ anh Ng chăm sóc các con cho đến khi anh Ng về nước, chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Ng; Tài sản chung chị H và anh Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp chị H, anh Ng, anh Th, bà Đ, bà M đều có đề nghị xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày với Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng; Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của chị H và anh Ng giao cháu Nguyễn Quốc B và cháu Nguyễn Thảo Ch cho anh Ng tiếp tục nuôi dưỡng, bà Lê Thị Đ tiếp tục hỗ trợ anh Ng chăm sóc các cháu cho đến khi anh Ng về nước. Chị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về lệ phí: Các đương sự chịu lệ phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
. Về tố tụng: Chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, cả hai anh chị đều đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con của chị H và anh Ng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị H, anh Ng, anh Th, bà Đ, bà M đều có đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị H, anh Ng không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng các tài liệu gửi về Việt Nam bao gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin giải quyết vắng mặt, giấy ủy quyền, bản sao sổ hộ chiếu của chị H, anh Ng đã được Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xác nhận. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt chị H, anh Ng, anh Th, bà Đ, bà M.
. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện NS, tỉnh Hải Dương vào ngày 28/10/2011, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay xảy ra xung đột, mâu thuẫn và không tìm thấy tiếng nói chung. Đến nay, cả hai đều xác định tình cảm không còn và đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H, anh Ng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị H và anh Ng có hai con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thảo Ch, sinh ngày 11/5/2014, hiện các cháu đang ở cùng anh Ng. Chị H, anh Ng thống nhất giao cho anh Ng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con Nguyễn Quốc B và Nguyễn Thảo Ch cho đến khi các con thành niên, bà Lê Thị Đ là mẹ đẻ anh Ng có trách nhiệm hỗ trợ anh Ng chăm sóc các con cho đến khi anh Ng về nước, bà Đ cũng có quan điểm nhất trí. Anh Ng tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho các con. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh Ng xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét.
. Về lệ phí: Chị H tự nguyện chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng.
[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đồng Thị H và anh Nguyễn Văn Ng, giao cho anh Nguyễn Văn Ng tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 12/12/2010 và Nguyễn Thảo Ch, sinh ngày 11/5/2014 cho đến khi các con chung thành niên. Bà Lê Thị Đ có trách nhiệm hỗ trợ anh Ng chăm sóc các cháu cho đến khi anh Ng về nước. Anh Ng tự nguyện không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Ng.
Chị Đồng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.
[3]. Về lệ phí: Chị Đồng Thị H tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đồng do chị Đồng Thị H đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0004961 ngày 02 tháng 3 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ lệ phí.
[4]. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã QT, huyện NS, tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Mai Hoa |