- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình giữa chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N năm 2019"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2019/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 25 tháng 6 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/4/2019 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 15/2019/QĐ-TA ngày 14/6/2019 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Đậu Thị T, sinh ngày 22/10/1982; địa chỉ: Khối 8A, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)
2. Anh Trần Văn N, sinh ngày 05/12/1974; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối 8A, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Australia (vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo Đơn xin ly hôn; bản tự khai của chị Đậu Thị T và Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản; bản tự khai của anh Trần Văn N trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N đăng ký kết hôn ngày 04/5/2004 tại Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đến năm 2012 thì anh N đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, thời gian đầu vợ chồng có liên lạc với nhau nhưng về sau thì rất ít khi liên lạc. Nguyên nhân do vợ chồng mỗi người một nơi không có sự tin tưởng dành cho nhau, nghi kỵ lẫn nhau, dần dần mất tình cảm dẫn đến thường xuyên ghen tuông và ngày càng trầm trọng. Hiện tại hai người đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên chị T và anh N thống nhất thuận tình ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Cẩm L, sinh ngày 16/02/2006 và Trần Hải N, sinh ngày 10/4/2008, chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N yêu cầu công nhận sự thỏa thuận giao con chung cho chị Đậu Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Anh N uỷ quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho anh Trần Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ: Khối 8A, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Trần Văn N hiện đang sinh sống tại nước Australia. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an thì anh Trần Văn N đã xuất cảnh ngày 29/4/2013, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Chị T, anh N có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và anh N ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho anh Trần Văn T (CMND số 1834). Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị T, anh N theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/2004 tại Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N hạnh phúc được một thời gian đến năm 2012 anh Trần Văn N đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, thời gian đầu có liên lạc với nhau nhưng về sau ít khi liên lạc do vợ chồng mỗi người một nơi, không đủ sự tin tưởng giành cho nhau, nghi kỵ lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt và không còn tình cảm với nhau. Nay, các đương sự đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của Đậu Thị T và anh Trần Văn N không đạt được mục đích đó.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị T và anh N đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Hai cháu Trần Cẩm L, sinh ngày 16/02/2006 và cháu Trần Hải N, sinh ngày 10/4/2008 hiện đang sinh sống cùng với chị Đậu Thị T, được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, mặt khác anh Trần Văn N đang sinh sống lao động tại nước ngoài nên sự thỏa thuận của chị T và anh N về việc giao hai con chung cho chị T trực tiếp chăm nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của hai cháu L và N, nên cần căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đậu Thị T và anh Trần Văn N
2. Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Trần Cẩm L, sinh ngày 16/02/2006 và Trần Hải N, sinh ngày 10/4/2008 cho chị Đậu Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh Trần Văn N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Đậu Thị T (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 001295 ngày 17/4/2019 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND thị trấn X; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Bích Đào |