- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Võ Thị Ánh Ng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Võ Thị Ánh N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 169/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 18 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Ngọc Công.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 279/2024/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 06/2024/QĐST-VDS ngày 12 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Võ Thị Ánh N, sinh năm: 1988; thường trú: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Bình Định; địa chỉ liên hệ: Số F khu đô thị Â, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị Thúy H, sinh năm: 1993; địa chỉ: Thôn A, xã N, thị xã N, tỉnh Bình Định; địa chỉ liên hệ: Số D khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH G; địa chỉ: Số A, Đường Đ, KCN S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường Đ, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12/11/2024); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, chức vụ: Tổ trưởng Tổ quản lý T2 – Sổ bảo hiểm xã hội thành phố D, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/11/2024); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại đơn yêu cầu ngày 17/10/2024 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Võ Thị Ánh N trình bày:
Từ tháng 10/2009 đến 01/2011, bà Võ Thị Ánh N làm việc tại Công ty TNHH N2; địa chỉ: Lô I, 96, 97, I đường số D và Lô S đường D, khu chế xuất S, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và đóng BHXH số 97909367015. Sau đó bà N nghỉ việc đến tháng 9/2012, bà N làm việc tại Công ty TNHH E; địa chỉ: Số G, đường T, KCN S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nay, bà Võ Thị Ánh N tiến hành điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT thì Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương ra soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà N bị trùng.
Lý do trùng bảo hiểm vì: Bạn bà N (là bà Phạm Thị Thúy H), đã sử dụng thông tin các nhân của bà N để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G từ tháng 11/2010 đến tháng 6/2012, đồng thời trong thời gian đó bà N ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH E đến tháng 11/2010 thì bà N nghỉ việc. Do bà N trùng thời gian tham gia BHXH từ tháng 11/2010 đến tháng 6/2012 tương đương với thời gian bạn bà N (bà H) mượn hồ sơ lao động của bà N.
Sau nhiều lần liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố D thì được hướng dẫn đến Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để tuyên bố hợp đồng vô hiệu đối với hợp đồng lao động giữa bạn bà N (Phạm Thị Thúy H) với Công ty TNHH G theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L.
Vào thời điểm năm 2010, bạn bà N là bà H chưa đủ 18 tuổi nên không đủ điều kiện để ứng cử lao động. Bà N1 và bà H là bàn bè với nhau nên mới hỗ trợ bà H mượn thông tin cá nhân để làm hồ sơ lao động, vì bà N1, bà H không hiểu biết pháp luật nên mới xảy ra câu chuyện như ngày hôm nay.
Do đó, bà Võ Thị Ánh N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Võ Thị Ánh N với Công ty TNHH G là vô hiệu và bà N không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH G1 T3 do bà Đỗ Thị Thanh T đại diện trình bày:
Theo dữ liệu trên máy tính nhân sự Công ty TNHH G thì vào tháng 11/2010, Công ty có tuyển dụng và ký hợp đồng lao động với bà Võ Thị Ánh N, sinh ngày 06/8/1988; số CMND xxxxxxxxx; địa chỉ: xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (theo dữ liệu tuyển dụng). Bà N1 làm việc tại tổ may, phân xưởng may với công việc là công nhân sản xuất giày. Thời gian làm việc của bà N1 theo như quy định của nội quy lao động công ty.
Công ty TNHH G được thành lập từ năm 2006 và đã một lần thay đổi địa chỉ hoạt động do địa chỉ cũ tại số B Đ, khu công nghiệp S đã trả lại mặt bằng cho chủ sở hữu. Ngành nghề kinh doanh của công ty là gia công giày dép nữ xuất khẩu, vị trí trong khu công nghiệp do đó việc biến động lao động hàng năm khá lớn. Tính đến thời điểm tuyển dụng bà N1 đến nay đã trải qua 14 năm do đó hồ sơ, hợp đồng… của bà N1 không còn lưu trữ tại công ty. Do đó, việc cung cấp hồ sơ, hợp đồng lao động… không thực hiện được.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D do ông Dương Văn T1 đại diện trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của Công ty TNHH G cho người lao động thì Công ty G có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Võ Thị Ánh N, sinh năm 1988, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 740181706 từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2010 tại Công ty TNHH G, chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, qua kiểm tra dữ liệu bà Võ Thị Ánh N còn có mã số 7909367015 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 10/2009 đến tháng 01/2011 tại Công ty TNHH N2.
Về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Võ Thị Ánh N với Công ty TNHH G, đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 9, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên hợp đồng lao động vô hiệu.
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Võ Thị Ánh N, Bảo hiểm xã hội không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Võ Thị Ánh N, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thúy H trình bày: Năm 2010, do bà Phạm Thị Thúy H không đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên tôi có mượn thông tin cá nhân (CMND) của bạn (là bà Võ Thị Ánh N) để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G từ tháng 11/2010 đến tháng 6/2012 thì nghỉ việc và đóng BHXH số 740181706. Cũng trong thời gian này chị bạn bà H (bà N) ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH N2; địa chỉ: Lô I, 96, 97, I đường số D và Lô S đường D, khu chế xuất S, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và đóng BHXH số 97909367015. Bà N1 đi điều chỉnh sổ BHXH thì phát hiện thông tin BHXH, BHYT của bà H và bà N1 bị trùng.
Nay, bà Võ Thị Ánh N yêu cầu Tòa án: Tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Võ Thị Ánh N với Công ty TNHH G là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà H đồng ý, không có ý kiến gì.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Yêu cầu của bà Võ Thị Ánh N là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị Ánh N có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty TNHH G; địa chỉ: Số A, Đường Đ, KCN S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Võ Thị Ánh N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thúy H, Bảo hiểm xã hội thành phố D, Công ty TNHH G có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục phiên họp.
Đối với yêu cầu của bà Võ Thị Ánh N xét thấy:
[2.1] Việc bà Phạm Thị Thúy H mượn chứng minh nhân dân của bà Võ Thị Ánh N để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Võ Thị Ánh N bị trùng từ 6/2010 đến tháng 8/2010 tại Công ty TNHH G (theo mã số BHXH 740181706).
Trình bày của bà Võ Thị Ánh N là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, phù hợp lời lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, bà Võ Thị Ánh N yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Võ Thị Ánh N với Công ty TNHH G vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Võ Thị Ánh N phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Võ Thị Ánh N.
Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Võ Thị Ánh N với Công ty TNHH G là vô hiệu.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Võ Thị Ánh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001820 ngày 30/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
4. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Ngọc Công |