- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình giữa anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 166/2022/QĐST- HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 30 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 204/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 169/2022/QĐ-TA ngày 16tháng 12 năm 2022 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Người yêu cầu: Anh Võ Tấn T, sinh năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc
2. Người yêu cầu: Chị Đoàn Thị A, sinh năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Võ Tấn T và quá trình giải quyết vụ án chị Đoàn Thị A trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 24/4/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Cuối tháng 4/2013 anh T đi lao động tại Hàn Quốc cho đến nay chưa về Việt Nam. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải cọ, lời qua tiếng lại với nhau nên dẫn đến tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung là Võ Ngọc Gia Linh, sinh ngày 13/12/2013. Hiện nay con đang ở cùng với chị Anh. Anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A thống nhất giao hai con chung Võ Ngọc Gia L cho chị Đoàn Thị A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Võ Tấn T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đến tuổi trưởng thành và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Ngoài ra, anh Võ Tấn T trình bày do tình hình dịch bệnh phức tạp và công việc, anh không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết vụ việc nên xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bà Nguyễn Thị A (mẹ đẻ anh T); địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Anh Võ Tấn T hiện đang sinh sống, lao động tại hàn Quốc. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an số 20157/QLXNC-P5 ngày 28/9/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì anh Võ Tấn T đã xuất cảnh gần nhất vào ngày 06/8/2017 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Võ Tấn T xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho bà Nguyễn Thị A (mẹ đẻ anh T); địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Võ Tấn T theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 24/4/2013 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Cuối tháng 4/2013, anh T đi lao động tại Hàn Quốc cho đến nay chưa về Việt Nam và cũng từ đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là quan điểm sống không hòa hợp, vợ chồng không còn tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay, anh T và chị A đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....” (Điều 55).
Như vậy, anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A có 01 con chung là Võ Ngọc Gia L, sinh ngày 13/12/2013. Hiện nay anh Võ Tấn T đang lao động tại Hàn Quốc không thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với con chung. Cháu Võ Ngọc Gia Linh có nguyện vọng được ở với chị Anh. Anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A đều đã thống nhất thỏa thuận giao con chung Võ Ngọc Gia L cho chị Đoàn Thị A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Võ Tấn T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.
Xét thấy sự thống nhất, thỏa thuận của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án miễn xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của anh T và chị A.
Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện chịu lệ lý ly hôn sơ thẩm và lệ phí cấp dưỡng nuôi con chung của anh Võ Tấn T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Võ Tấn T và chị Đoàn Thị A.
2. Về con chung: Giao con chung Võ Ngọc Gia Linh, sinh ngày 13/12/2013 cho chọ Đoàn Thị A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về nuôi con. Anh Võ Tấn T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 12/2022 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con của anh Võ Tấn T nhưng được trừ số tiền 300.000đ anh T đã nộp theo biên lai số 0000347 ngày 25/10/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Võ Tấn T còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND phường Đ; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Trần Thị Thu Hiền |