- Tranh chấp gì? "Nguyễn Chí T - Áp dụng biên pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều: 5, 28, 32 Luật Phòng chống ma túyĐiều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử…
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều; Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/QĐ-TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 02 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Trường Phúc.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Phòng họp trực tuyến
Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần: Phòng trực tuyến Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/QĐ-TA ngày 03 tháng 02 năm 2026, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Chí T1, Giới tính: nam.
Sinh ngày: 08/02/1993.
Số CMND/CCCD: xxxxxxxxxxx.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 9/12.
Nơi thường trú: tổ A, ấp H, xã V, tỉnh An Giang.
Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: công nhân.
Tiền án: không.
Tiền sự: không.
Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết).
Nguyễn Chí T1 (Tham gia tại phòng trực tuyến Cơ sở cai nghiệm ma túy
số D, Thành phố Hồ Chí Minh) có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Chánh Tín – Cán bộ Công an
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Tham gia tại Phòng họp trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên. (Tham gia tại Phòng họp trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 17-Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Người tham gia khác: Ông Mai Xuân T4 (Tham gia tại phòng trực tuyến
Cơ sở cai nghiệm ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh).
NHẬN THẤY:
Theo kết quả xét nghiệm của Trạm y tế phường Tân Khánh ngày
31/01/2026, đối với người bị đề nghị Nguyễn Chí T1 kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine (MET). Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, người bị đề nghị Nguyễn Chí T1 thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 01 năm 2026 và lần sử dụng gần nhất là ngày 28/01/2026, đối tượng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.
Ngày 01 tháng 02 năm 2026, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
ban hành Thông báo số 62/TB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Chí T1. Ngày 01/02/2026, Công an phường T ban hành Đề nghị số 62/ĐN gửi Tòa án nhân dân khu vực 17
- Thành phố Hồ Chí Minh xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Nguyễn Chí T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên họp, đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề
nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Chí T1 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn từ 20 tháng đến 22 tháng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 -Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp Lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túyluật xử lý vi phạm hành chínhcai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Chí T1 với mức đề nghị từ 20 đến 22 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
- Về thẩm quyền: Hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Chí T1 do Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Về thời hiệu: Nguyễn Chí T1 bị lập biên bản vi phạm hành chính ngày
01/02/2026; đến ngày 09/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp xem xét áp dụng xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Về nội dung: Căn cứ biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai, bản tường
trình cùng ngày 31/01/2026 của Nguyễn Chí T1, biên bản xét nghiệm, phiếu trả lời kết quả, phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế phường T có đủ cơ sở kết luận người bị đề nghị Nguyễn Chí T1 là người nghiện ma túy, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Chí T1 không đăng ký cai nghiện tự nguyện thuộc đối tượng phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và điểm a khoản 1, Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Chí T1 đã vi phạm
khoản 5 Điều 5 của Luật Phòng chống ma túy và khoản 1, khoản 16 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hành vi này vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân Nguyễn Chí T1 là người đã thành niên biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng và không tự cai nghiện được nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Không có.
Từ những phân tích trên, xét thấy việc đưa người bị đề nghị Nguyễn Chí
T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, để người bị đề nghị Nguyễn Chí T1 được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh là phù
hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 2, 6, 95, 96, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 110 Luật
Xử lý vi phạm hành chínhcác Điều: 5, 28, 32 Luật Phòng chống ma túyĐiều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Nguyễn Chí T1, sinh ngày 08/02/1993.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (Một) năm 10
(mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Ông Nguyễn Chí T1 có quyền khiếu nại, Công an phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh chủ trì, phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy đưa Nguyễn Chí T1 vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 04, Thành phố Hồ Chí Minh
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an phường Tân Khánh; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 4, Thành phố Hồ Chí Minh; - Ông Nguyễn Chí T1; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Võ Thị Hồng Thêm |