vanban.org

Quyết định 16/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị P.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị P (do bà Nguyễn Thị Đ ký) với Công ty N là vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015200 ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Chi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị P - Công ty N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 49 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 50 Bộ luật lao động và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2024/QĐST-LĐTrảng Bàng, ngày 22 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Đỗ Huy Phong.

- Thư ký phiên họp: ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyến bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 15/2024/QĐST-LĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp L, xã G, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của bà P: anh Võ Hoài P, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 04-11-2023); vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty N; địa chỉ: Đường số 7, Khu Công Nghiệp T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông C - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: ông M - Chức vụ: Tổng giám đốc; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp L, xã G, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội tỉnh N; địa chỉ: Số 233, đường C, Khu phố 5, Phường 3, thành phố N, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông H - Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh N.

Người đại diện theo ủy quyền: bà L - Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã T; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị P trình bày: do quen biết nên bà Nguyễn Thị P cho bà Nguyễn Thị Đ mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty N từ tháng 10-2007 đến tháng 02-2008 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 10-2007 đến tháng 02-2008, mã số 4507017387 mang tên Nguyễn Thị P. Trong thời gian này bà Ph ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty S, được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12-2007 đến tháng 05-2008 với mã số 7208001216 mang tên Nguyễn Thị P. Ngoài ra, từ tháng 04-2014 đến tháng 09-2022, bà P còn làm việc tại nhiều công ty khác nhau và được đóng bảo hiểm xã hội với mã số 7214024137.

Do bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau là Công ty N và Công ty S nhưng dưới một tên là Nguyễn Thị P nên bà P không lãnh tiền bảo hiểm xã hội được. Vì vậy bà P nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty N và bà Nguyễn Thị P (do bà Đ mượn chứng minh nhân dân của bà Ph để ký hợp đồng lao động) là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để bà P làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày: bà Đ thừa nhận có mượn chứng minh nhân dân của bà P để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty N từ tháng 10-2007 đến tháng 02-2008 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 10-2007 đến tháng 02-2008, mã số 4507017387 mang tên Nguyễn Thị P.

Hiện bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty N và bà Nguyễn Thị Ph (do bà Đ mượn chứng minh nhân dân của bà P để ký hợp đồng lao động) vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để bà P làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội thì bà Đ đồng ý và không có yêu cầu gì trong vụ việc lao động này.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty N trình bày: thừa nhận Công ty N và bà Nguyễn Thị P có ký hợp đồng lao động. Bà P làm việc tại công ty từ tháng 10-2007 đến tháng 02-2008 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 10-2007 đến tháng 02-2008, mã số 4507017387 mang tên Nguyễn Thị P.

Đối với việc bà P cho rằng không làm việc tại công ty mà cho bà Đ mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại công ty thì công ty không biết. Vì khi tuyển dụng, các tài liệu và thông tin cá nhân do người lao động cung cấp đều được sao y, chứng thực đúng quy định.

Nay bà P yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty N và bà Nguyễn Thị P (do bà Đ mượn chứng minh nhân dân của bà P để ký hợp đồng lao động) vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để bà P làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội thì công ty đồng ý và công ty không có yêu cầu gì trong vụ việc lao động này.

Theo người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh N trình bày: kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị P và Công ty N vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét đơn yêu cầu đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ Điều 15, 49, 50 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng giải quyết việc lao động xem xét quyết định: chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị P về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị P và Công ty N là vô hiệu; bà Nguyễn Thị P phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty N; địa chỉ: Đường số 7, Khu Công Nghiệp T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên họp theo quy định pháp luật. Tại phiên họp người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị P:

Xét thấy việc bà Đ sử dụng thông tin cá nhân của bà P để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty N là có thật. Hành vi của bà Đẩu là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động.

Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà P tại Công ty N từ 10-2007 đến tháng 02-2008, mã số 4507017387 mang tên Nguyễn Thị P phù hợp với lời trình bày và thông tin do bà P cung cấp.

Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà P về việc tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty N với bà Nguyễn Thị P (do bà Nguyễn Thị Đ mượn chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị P để ký hợp đồng lao động) vô hiệu.

Về lệ phí: bà Nguyễn Thị P phải chịu theo quy định.

Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 15, 49, 50 của Bộ luật lao động; Điều 33, 39, 149, 367, 372, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị P.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị P (do bà Nguyễn Thị Đ ký) với Công ty N là vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015200 ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị Đ, Công ty N và Bảo hiểm xã hội tỉnh N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ