- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 159/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 06 tháng 11 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thuý An- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 264/2024/TLST-VLĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 141/2024/QĐST-LĐ ngày 01 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981. Thường trú: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ liên hệ: Số B, tổ I, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Thái Thị L, sinh năm 1988. Thường trú: Thôn D, xã T, huyên T, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ liên hệ: số 55/3/15, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Công ty TNHH T2. Địa chỉ: Số B, đường số C, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: và tên: Ông TUAZON CABRERA RYAN, sinh năm 1981; Địa chỉ liên lạc: Tòa nhà O, số A K, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 28/10/2024.) Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị T trình bày:
Từ tháng 01/2007 đến tháng 3/2014, bà T có làm việc tại Công ty TNHH O, địa chỉ: Số B đường D, khu công nghiệp S, phường T, thành phố D, Tỉnh Bình Dương và bảo hiểm xã hội số: 9107013656.
Nay bà T tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà T bị trùng. Lý do bị trùng bảo hiểm: Bà Thái Thị L – cháu của bà T (sử dụng thông tin của bà T– Nguyễn Thị T) giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 khoảng từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008, có đóng bảo hiểm xã hội số 910727485.
Cùng thời gian đó, bà T giao kết hợp đồng lao động với tại Công ty TNHH O. Do đó, bà T bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008 tương đương với thời gian bà Thái Thị L mượn hồ sơ lao động của bà T. Vào thời điểm năm 2007, bà Thái Thị L không đủ hồ sơ để ứng tuyển lao động. Bà T và bà L là cô cháu với nhau nên mới hỗ trợ bà L mượn thông tin cá nhân làm hồ sơ lao động. Vì cả hai không hiểu biết về pháp luật, chỉ nghĩ đến cách tìm kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay.
Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T và Công ty TNHH T2 (thời gian làm việc từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008) là vô hiệu. Ngoài ra, bà T không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu cũng như không có yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị L trình bày:
Bà L và bà Nguyễn Thị T là cô cháu. Khoảng năm 2007 bà L không đủ hồ sơ để ứng tuyển lao động, do hoàn cảnh nhà nghèo, buộc phải kiếm tiền phụ giúp gia đình nên bà L đã sử dụng thông tin của bà T để vào làm việc tại Công ty TNHH T2 và giao kết hợp đồng lao động, tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008.
Do đó, để đảm bảo quyền lợi của bà T, bà L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tuyên Hợp đồng lao động (từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008) giữa bà Nguyễn Thị T và Công ty TNHH T2 vô hiệu. Ngoài ra, bà L không có yêu cầu gì trong vụ việc này.
- Ông Dương Văn T1 là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH T2 cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị T sinh năm 1981, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 9107274857 từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008 tại Công ty TNHH T2 chưa nhận trợ cấp BHXH.
- Ngoài ra bà Nguyễn Thị T còn có mã số 9107013656 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 01/2007 đến tháng 02/2009 và từ tháng 04/2009 đến tháng 03/2014 tại Công ty TNHH T3.
- Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Nguyễn Thị T và Công ty TNHH T2, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị T, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của bà Nguyễn Thị T, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T2 trình bày:
Bà Nguyễn Thị T có giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 và được Công ty tham gia BHXH tuy nhiên do thời gian đã lâu nên Công ty không còn lưu trữ hồ sơ lao động của bà T nên không thể cung cấp cho Toà án. Tất cả người lao động khi xin việc tại Công ty đều phải có hồ sơ xin việc, sơ yếu lý lịch đầy đủ, có xác nhận của chính quyền địa phương, công ty không hề biết việc bà L mượn giấy tờ của bàTài để làm việc tại Công ty, do khi tuyển dụng, số người lao động ứng tuyển tại công ty rất lớn.
Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty TNHH T2 vô hiệu thì Công ty không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp Toà án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì Công ty không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và các đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Người yêu cầu bà Nguyễn Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị L, Công ty TNHH T2, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Trong thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008, người lao động tên Nguyễn Thị T sinh năm 1981, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH T2 tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 9107274857, dựa trên hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH T2 và bà T trong thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008, hai bên ký kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T và bà Thái Thị L thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH T2 và thực tế làm việc tại Công ty TNHH T2 trong khoảng thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008 theo hợp đồng lao động là bà Thái Thị L chứ không phải bà Nguyễn Thị T do bà L mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của bà T để đi làm việc. Đối với bà T trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty TNHH T3. Do bà L không đủ hồ sơ để ứng tuyển lao động nên bà T đã cho bà L mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà T và bà L phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 01/2007 đến tháng 02/2009 và từ tháng 04/2009 đến tháng 03/2014 bà T có quá trình tham gia tại Công ty TNHH T3. Xét, việc bà L lấy tên bà T để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị T bị trùng từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008. Công ty TNHH T2 không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH T2 với bà bà Nguyễn Thị T từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị T với Công ty TNHH T2 thời gian làm việc từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2008 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001767 ngày 17/102024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3/ Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4/ Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THA DS TP.Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Nguyễn Thị Mỹ Thanh |