- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 153/2020/QĐST-HNGĐ | Quận 2, ngày 22 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 Điều 361 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81 82, 83, 85 của Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ hôn nhân gia đình thụ lý số 169
/TLST – HNGĐ ngày 21/05/2020, về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,
gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu:
Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1991
Địa chỉ: 360A/4 đường B, Phường B, Quận 4
Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số 04, khu phố 6, đường L, phường A, Quận 2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Yêu cầu thuận tình ly hôn là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do người
yêu cầu có nơi cư trú tại Quận 2 nên theo điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a,
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án nhân dân Quận 2.
Về các yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 21/07/2017 của Ủy ban
nhân dân phường A, Quận 2 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Đoàn Thị T và ông
Nguyễn Trung H là hợp pháp.
Căn cứ các bản tự khai, biên bản hòa giải có trong hồ sơ, Tòa án nhân dân
Quận 2 nhận thấy:
Hôn nhân giữa bà Đoàn Thị T và ông Nguyễn Trung H là hoàn toàn tự
nguyện và hợp pháp. Trong thời gian chung sống, bà L và ông H thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, xích mích và cãi vã. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng về tính cách, về quan điểm sống dẫn đến tranh cãi gay gắt. Rất nhiều lần cả hai đã cố gắng hàn gắn để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn giữa hai bên không thể giải quyết. Bà L và ông H không còn yêu thương, quan tâm đến nhau và ly thân đã 01 (một) năm nay. Nay bà L và ông H xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 2 giải quyết thuận tình ly hôn.
Về con chung: Bà L và ông H có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đoàn
Gia K (Nam), sinh ngày 14/10/2017 và Nguyễn Đoàn Gia A (Nam), sinh ngày 25/4/2019. Bà L và ông H thống nhất giao hai con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Hàng tháng ông H cấp dưỡng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)/ tháng đối với hai trẻ. Việc cấp dưỡng được bắt đầu thực hiện từ ngày 01/7/2020 cho đến khi các con chung trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông H không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly
hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể
như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Đoàn Thị T và ông Nguyễn Trung H thuận tình ly
hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 21/07/2017 của Ủy ban nhân dân
phường An Khánh, Quận 2 không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Đoàn Gia K (Nam),
sinh ngày 14/10/2017 và Nguyễn Đoàn Gia A (Nam), sinh ngày 25/4/2019 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Hàng tháng ông H cấp dưỡng số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)/ tháng đối với hai trẻ. Việc cấp dưỡng được bắt đầu thực hiện từ ngày 01/7/2020 cho đến khi các con chung trưởng thành.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi
dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được
sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trưc tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc
gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì
người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con
của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các nghĩa vụ theo qui định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình
tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy
định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi
con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông H không yêu cầu tòa án giải
quyết.
2. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn đồng), bà Đoàn Thị
T tự nguyện chịu, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn đồng) mà bà
L đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0027561 do Chi cục Thi hành án dân sự
Quận 2 lập ngày 21/5/2020. Ông H không phải nộp lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Quận 2; - Chi cục THADS Quận 2; - UBND phường A, Quận 2; - Lưu (VT), hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN (đã ký và đóng dấu) Đặng Thị Hải Yến |