vanban.org

Quyết định 15/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ N về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”.

Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa người tên Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1986, số CMND: xxxxxxxxx và Công ty TNHH P1 từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 vô hiệu. Các bên có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Lê Thị Mỹ N và Công ty TNHH P."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ N về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2026/QĐST-LĐThành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”.

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Kiều Oanh;

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 19/2025/TLST-LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 239/2026/QĐST-LĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu là: Bà Lê Thị Mỹ N; sinh ngày: 06/12/1986; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 17/6/2024; HKTT: 72 tổ G, KP H, xã C, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là:

1. Công ty TNHH P; Địa chỉ: D Quốc lộ A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo uỷ quyền là: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1976 (Văn bản uỷ quyền số 1701-GUQ/PYV/2026 ngày 17/01/2026).

2. Bà Lê Thị N1, sinh ngày: 13/02/1992; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx do Cục C về TTXH cấp ngày 06/01/2022; Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh;

(Bà N, ông T và bà N1 đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Lê Thị Mỹ N trình bày tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 25/07/2025 và Bản tự khai ngày 26/11/2025 như sau:

Năm 2008, do hoàn cảnh gia đình khó khăn và chưa đủ tuổi đi làm nên bà Lê Thị N1 (em ruột của bà) có mượn chứng minh nhân dân của bà để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH P1, địa chỉ D Quốc lộ A, phường T, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Công ty và bà N1 có thoả thuận và ký Hợp đồng lao động. Đến năm 2010, bà Lê Thị N1 nghỉ việc tại Công ty TNHH P1.

Cùng năm 2008, bà có ký Hợp đồng lao động với Công ty TNHH P2 (chi nhánh tại địa chỉ: Tòa nhà T Thương Mại H, số A Hồ N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Mã số BHXH: 7908XXXXXX, thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 05/2008 đến tháng 04/2009. Vào tháng 5/2025, bà có làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội một lần thì phát hiện số sổ BHXH 7908XXXXXX có thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 đây là thời gian bà Lê Thị N1 mượn chứng minh nhân dân của bà để ký hợp đồng và làm việc tại Công ty TNHH P1. Do đó, BHXH không giải quyết cho bà rút BHXH một lần.

Nay bà làm đơn này yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH P1 với bà Lê Thị Mỹ N (thực tế là bà Lê Thị N1 ký) giai đoạn từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 vô hiệu do không đúng về nhân thân để bà hoàn tất hồ sơ rút bảo hiểm xã hội một lần. Bà không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp động lao động vô hiệu. Ngoài ra, bà không có yêu cầu nào khác.

Do bà hiện đang có con nhỏ, không ai chăm sóc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH P1 do ông Huỳnh Văn T làm người đại diện theo uỷ quyền có Bản tự khai ngày 06/02/2026 trình bày như sau:

Công ty TNHH P1 (gọi tắt là Công ty) xác nhận: Có giao kết hợp đồng lao động với người có thông tin dưới đây:

Họ và tên: LÊ THỊ MỸ N, ngày sinh: 1986, giới tính: Nữ

Số CMND: xxxxxxxxx Ngày cấp: 31/07/2002 Nơi cấp: Công an L

Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An

Số thẻ nhân viên: 0739XX

Thuộc phân xưởng: 0172

Ngày vào xưởng: 24/06/2008

Thôi việc kể từ ngày: 31/03/2010

Số sổ BHXH: 7908XXXXXX

Thời gian tham gia BHXH: 07/2008 đến 03/2010 (01 năm 09 tháng)

Công ty đã chốt và trả số BHXH cho người lao động ngày: 12/11/2011

Hợp đồng lao động vì đã lâu nên Công ty không còn lưu giữ.

Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động, Công ty không thể biết được người lao động cung cấp hồ sơ không trung thực. Vì vậy trong trường hợp này Công ty không có lỗi.

Vậy nên, đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu nếu thực tế có việc cho mượn hồ sơ để ký hợp đồng lao động như trình bày của bà Lê Thị Mỹ N, thì Công ty đồng ý hợp đồng lao động trong vụ việc này vô hiệu. Công ty không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp động lao động vô hiệu.

Ngoài ra, ông xin được vắng mặt trong tất cả các phiên họp, hoà giải công khai chứng cứ và xét xử tại Toà án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị N1 có Bản tự khai ngày 26/11/2025 trình bày như sau:

Bà xác nhận lời trình bày của bà N là đúng. Vì hoàn cảnh khó khăn và chưa đủ tuổi đi làm nên năm 2008 bà có mượn chứng minh nhân dân của chị ruột bà là bà Lê Thị Mỹ N để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH P1, địa chỉ D Quốc lộ A, phường T, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Công ty và bà có thoả thuận và ký Hợp đồng lao động. Bà làm việc tại Công ty TNHH P1 từ tháng 7/2008 đến 3/2010 thì bà nghỉ việc. Nay bà Lê Thị Mỹ N có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng lao động đã ký kết giữa Công ty TNHH P1 với bà Lê Thị Mỹ N (thực tế là bà N1 ký) giai đoạn từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 vô hiệu thì bà thống nhất và không có ý kiến gì. Bà cũng thống nhất với bà N về việc không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp động lao động vô hiệu. Ngoài ra, bà không có yêu cầu nào khác.

Do bà hiện đang sống và làm việc ở Cà Mau nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký phiên họp và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự.

+ Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự, đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng Điều 15, 16, 50 Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ N về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Mỹ N với Công ty TNHH P1 vô hiệu.

+ Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Mỹ N phải chịu lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động mang tên Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1986, giới tính nữ, số CMND: xxxxxxxxx, ngày cấp 31/7/2002, nơi cấp: Công an L đã ký với Công ty TNHH P1 là vô hiệu. Đây là loại việc dân sự về: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” được quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được ký kết tại trụ sở của Công ty TNHH P1 có địa chỉ tại D Quốc lộ A, phường T, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Người yêu cầu là bà Lê Thị Mỹ N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

Xét lời trình bày của bà N và bà N1: Cả hai đều thừa nhận vì hoàn cảnh khó khăn và chưa đủ tuổi lao động nên bà N1 có mượn chứng minh nhân dân của chị ruột bà là bà Lê Thị Mỹ N để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH P1, địa chỉ D Quốc lộ A, phường T, quận B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, sự việc bà N1 mượn chứng minh nhân dân của bà N là có thật.

Theo xác nhận tại Công văn phúc đáp số 75/BHXH-TST ngày 28/01/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở A, Thành phố Hồ Chí Minh thì:

“1/ Căn cứ dữ liệu BHXH đang quản lý bà Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1986, số CMND xxxxxxxxx, có tham gia BHXH tại Công ty TNHH P1, quá trình từ tháng 07/2008 đến tháng 03/2010, số BHXH 7908XXXXXX, đã hưởng trợ cấp BHXH 1 lần.

2/ Không có hồ sơ liên quan đính kèm do BHXH cơ sở An Lạc được phân cấp quản lý Công ty TNHH P1 từ tháng 04/2022”.

Lời khai của bà N, bà N1 và kết quả đối chiếu dữ liệu của Bảo hiểm xã hội cơ sở An Lạc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Công ty TNHH P1 giao nộp nên có căn cứ xác định chủ thể tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1 không phải là bà Lê Thị Mỹ N mà là bà Lê Thị N1 trực tiếp ký kết và làm việc. Đây là hành vi gian đối, vi phạm nguyên tắc «trung thực» khi giao kết hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, địa chỉ của người lao động quy định tại Điều 15, 16 Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

Mặt khác, theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”.

Do đó, yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà N là có cơ sở chấp nhận.

Các bên có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Bà Lê Thị Mỹ N không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu nên không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Mỹ N phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0030779 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Đương sự đã nộp xong lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 150, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 401, Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 15, 16, 49, 50 Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019);

- Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ N về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”.

Tuyên bố Hợp đồng lao động ký giữa người tên Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1986, số CMND: xxxxxxxxx và Công ty TNHH P1 từ tháng 7/2008 đến tháng 3/2010 vô hiệu.

Các bên có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Lê Thị Mỹ N phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà N đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0030779 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Bà N đã nộp xong lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự, hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ