vanban.org

Quyết định 15/2022/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cà Thị N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cà Thị N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cà Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 15/2022/QĐ-TA
Điện Biên P, ngày 23 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN P, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Định

2. Thư ký phiên họp: Bà Thào Thị Thu Nhàn

Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 16/2022/QĐ-TA ngày 15 tháng 6 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Cà Thị N (Tên gọi khác: Không).

Sinh năm 1998.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Co L, xã Mường Ph, thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên.

Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: làm ruộng.

CCCD, số định danh: 011198003598.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông: Cà Văn P1 và bà Tòng Thị H.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Trương Thị Phương Anh - Chuyên viên Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Điện Biên P.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P: Bà Tịnh Thị Duyên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 29/4/2022, Cà Thị N có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện chất ma túy gửi Trạm Y tế xã Mường Ph, thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên. Từ ngày 02/5/2022 đến ngày 31/5/2022, Trạm y tế xã Mường Ph đã tiến hành theo dõi và lập phiếu tổng hợp xác định Nhung có 04/06 tiêu chuẩn xác định tình trạng nghiện. Ngày 31/5/2022, Công an xã Mường Ph tiến hành kiểm tra, xét nghiệm ma túy đối với N, xác định Cà Thị N dương tính với chất ma túy là Heroine. Cùng ngày, Trạm Y tế xã đã có phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với N là có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine, đồng thời tiến hành giao phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho N. Đến ngày 06/6/2022, N vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy Heroine tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Mường Ph, thành phố Điện Biên P nên Công an xã đã lập biên bản vi phạm số: 16/BB-VPHC ngày 06/6/2022 đối với N về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Luật phòng chống ma túy và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy.

Ngày 07/6/2022, UBND xã Mường Ph, thành phố Điện Biên P ra Thông báo số 22/TB-UBND, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cà Thị N.

Ngày 10/6/2022, Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Điện Biên P có văn bản số 82/ĐN-LĐTBXH về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Cà Thị N đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, ý thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, đã có thời gian dài sử dụng và lệ thuộc vào ma túy, biết tình trạng nghiện ma túy của bản thân mà không tự chủ động đăng ký cai nghiện, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên P áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 15 tháng đến 20 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị: Cà Thị N xác nhận bản thân nghiện ma túy từ tháng 12/2017 cho đến nay, không tham gia tự điều trị nghiện theo Luật phòng chống ma túy, đến nay vẫn sử dụng Heroine. N đề nghị được đi cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng.

Ý kiến của đại diện gia đình người bị đề nghị: Tại đơn đề nghị ngày 31/5/2022, bà Tòng Thị H (Mẹ đẻ của N) cho rằng, N đi làm ăn xa, bị bạn bè rủ rê, lôi kéo vào con đường tệ nạn xã hộ nên đã chất nghiện ma túy từ năm 2018 cho đến nay, gia đình đã động viên cai nghiện tại gia đình nhiều lần, song cho đến nay vẫn không từ bỏ được ma túy nên đề nghị cơ quan có thẩm quyền đưa N đi cai nghiện bắt buộc để từ bỏ được ma túy.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên:

Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Cà Thị N đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự; quá trình thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cà Thị N là người có đầy đủ năng lực hành vi hành chính; có nơi cư trú ổn định, có nhận thức về tác hại của ma túy; đã được cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng không tự nguyện đăng ký cai nghiện, là đối tượng thuộc khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung 2020, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ của Chính phủ. Vì vậy, đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:

Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên P đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Quyết định mở phiên họp đối với Cà Thị N.

Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N đảm bảo về thời hiệu và trình tự theo quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét về đối tượng, tính chất, mức độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc: Cà Thị N là người nghiện ma túy (Heroine), có năng lực trách nhiệm hành chính. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú nên đã vi phạm vào khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc, N đã tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào hành vi vi phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của Cà Thị N, xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để có điều kiện chữa bệnh, cai nghiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Điện Biên P; người bị đề nghị, đại diện gia đình của người bị đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 3, 5, 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 và khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi, bổ sung năm 2020;

- Khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Điều 3, 20, 22, 23, 29, 30, 31 của Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cà Thị N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định.

Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Điện Biên P, tỉnh Điện Biên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên P có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của các Điều 30, 31, 32 của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính Công an thành phố Điện Biên P, Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố Điện Biên P, có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ