- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị C"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 141/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 21 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Phan Thị Hiền.
Thư ký phiên họp: ông Phạm Anh Ly - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 249/2024/LĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 124/2024/QĐST-LĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: chị Hồ Thị C, sinh năm: 1972; địa chỉ: số B khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Huỳnh Thị C1, sinh năm: 1967; địa chỉ: số B, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty TNHH MTV V; địa chỉ: số A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: bà Bùi Thị Ánh P, là người đại diện theo pháp luật, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, trung tâm Hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 11/10/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu chị Hồ Thị C trình bày: từ năm 2008 đến năm 2011, chị C có làm việc tại Công ty TNHH D, địa chỉ: số D, đường số B, khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và có đóng bảo hiểm xã hội số: 7408149563. Nay chị C tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Cơ quan bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin của chị C bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm: tháng 3/2008 đến tháng 6/2011, chị Huỳnh Thị C1 (chị dâu chị C) sử dụng thông tin của chị C giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV V. Trong thời gian đó, chị C có giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH D và chị C nghỉ việc từ tháng 06/2010.
Do đó, chị C bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011, đây là thời gian chị Huỳnh Thị C1 mượn hồ sơ lao động của chị C. Nay chị C yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Hồ Thị C và Công ty TNHH MTV V từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011 là vô hiệu.
- Bà Bùi Thị Ánh P là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công TNHH V trình bày: Từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011 công ty TNHH MTV V (gọi tắt là công ty) có tuyển dụng người lao động có hồ sơ tên Hồ Thị C, nhưng thực tế người làm việc là chị Huỳnh Thị C1. Việc chị C1 mượn hồ sơ của chị C để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Do chị Huỳnh Thị C1 mượn hồ sơ của chị Hồ Thị C để đi làm nhưng công ty không biết nên công ty có đóng bảo hiểm cho chị Hồ Thị C (tức chị Huỳnh Thị C1), do đó chị Hồ Thị C bị trùng thời gian đóng bảo hiểm từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011 tương đương với thời gian chị Hồ Thị C đi làm ở công ty khác.
Nay Công ty TNHH MTV V đồng ý tuyên vô hiệu hợp đồng lao động với chị Hồ Thị C (tức chị Huỳnh Thị C1) từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011.
- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH MTV V cho người lao động thì Công ty TNHH MTV V có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho chị Hồ Thị C, sinh năm 1972, số CCCD xxxxxxxxxxxx (CMND xxxxxxxxx), với mã số BHXH 7408087493 từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011 đã nhận trợ cấp BHXH một lần.
Ngoài ra, chị Hồ Thị C còn có số sổ 7408149563 từ tháng 06/2008 đến tháng 06/2023 tại Công ty TNHH Y.
Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa chị Hồ Thị C và Công ty TNHH MTV V, đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ- CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của Chị Hồ Thị C, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của chị C phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị C1 trình bày: Vào thời điểm năm 2008, chị C1 không đủ điều kiện ứng tuyển lao động. Chị C1 và chị Hồ Thị C là chị em dâu nên chị Huỳnh Thị C1 mượn thông tin cá nhân làm hồ sơ lao động với Công ty TNHH một thành viên V, đến tháng 6 năm 2011 thì chị C1 nghỉ việc. Vì cả hai không hiểu biết về pháp luật, chỉ nghĩ tìm kế sinh nhai nên mới để lại hậu quả pháp lý như ngày hôm nay. Nay chị C1 đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu của của chị Hồ Thị C về yêu cầu tuyên Hợp đồng lao động (từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011) giữa chị Hồ Thị C và Công ty TNHH một thành viên V là vô hiệu.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị C, chị C1, Bảo hiểm xã hội thành phố D, Công ty TNHH MTV V có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: trong thời gian từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011, người lao động tên Hồ Thị C, sinh năm 1972, số căn cước cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH MTV V tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408087493. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH MTV V và chị Hồ Thị C phát sinh từ hợp đồng lao động tháng 3/2008. Tuy nhiên, chị Hồ Thị C và chị Huỳnh Thị C1 thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV V và thực tế làm việc tại Công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 03/2008 đến tháng 06/2011 theo hợp đồng lao động là chị Huỳnh Thị C1 chứ không phải chị Hồ Thị C do chị C1 mượn chứng minh nhân dân, giấy tờ của chị C để đi làm việc. Căn cứ vào ý kiến của Bảo hiểm xã hội thành phố D thì từ tháng 6/2008 đến tháng 6/2023 chị C còn tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Y. Mục đích mượn giấy tờ là để chị C1 có việc làm do thời gian này chị C1 không đủ điều kiện ứng tuyển lao động. Trình bày của chị C và chị C1 phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 3/2008 đến tháng 6/2011 chị Hồ Thị C có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH MTV V và Công ty TNHH Y.
Xét thấy, việc chị C1 sử dụng tên chị C để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động. Do đó việc chị C yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 3/2008 đến tháng 6/2011 giữa chị Hồ Thị C (do chị Huỳnh Thị C1 mượn tên) với Công ty TNHH MTV V là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp.
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: chị Hồ Thị C phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động;
Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Hồ Thị C
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị chị Hồ Thị C, sinh năm 1972; địa chỉ: số B khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (do chị Huỳnh Thị C1 ký kết) với Công ty TNHH MTV V là vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Hồ Thị C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0001593 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục Thi hành án Dĩ An; - Các đương sự; - Hồ sơ; - Lưu./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Phan Thị Hiền |