vanban.org

Quyết định 129/2018/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1981; ĐKNKTT: đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: đường M, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên và anh Tô Hoài N, sinh năm 1975; đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Chị Hoa, anh Nam thống nhất thỏa thuận giao chị Đỗ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Tô Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2013; giao anh Tô Hoài N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Tô Hoàng V, s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "thuận tình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1981; ĐKNKTT: đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: đường M, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên và anh Tô Hoài N, sinh năm 1975; đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HOÀ
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________
Số: 129/2018/QĐST- HNGĐ
Tuy Hoà, ngày 19 tháng 7 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 216/2018/TLST/HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 giữa:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1981

ĐKNKTT: đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên

Chỗ ở: đường M, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên

Bị đơn: Anh Tô Hoài N, sinh năm 1975

Địa chỉ: đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 7 năm 2018

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên

bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 7 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1981; ĐKNKTT: đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: đường M, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên và anh Tô Hoài N, sinh năm 1975; đường L, phường N, TP. T, tỉnh Phú Yên.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Chị Hoa, anh Nam thống nhất thỏa thuận giao chị Đỗ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Tô Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2013; giao anh Tô Hoài N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Tô Hoàng V, sinh ngày 25/6/2009. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung: Chị H, anh N thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H, anh N thống nhất xác định vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị H tự nguyện chịu 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Phiếu thu số AA/2015/0010142 ngày 26/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên được hoàn lại 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ