vanban.org

Quyết định 12/2019/HNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/03/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H.

Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 19/4/2012 cho chị Nguyễn Thị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Trong thời gian chị X chưa về nước th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận Thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn H năm 2019"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2019/QĐST-HNGĐHà Tĩnh, ngày 29 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Lệ Thu

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Phan Lệ Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 11/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2019 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 09/2019/QĐ-TA ngày 23/3/2019 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

1. Chị Nguyễn Thị ; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phường T, thành phố H Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức

2. Anh Nguyễn Văn H; địa chỉ: Phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản đề ngày 16/01/2019; bản tự khai đề ngày 19/12/2018 của chị Nguyễn Thị và Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản; bản tự khai của anh Nguyễn Văn H trình bày thống nhất như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn ngày 30/11/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên tranh cãi sau đó chị đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đức và từ đó đến nay, mỗi người một nơi nên không có điều kiện chăm sóc nhau, hàn gắn mâu thuẫn nên mâu thuẫn giữa ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Hiện tại hai người đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên chị X và anh H thống nhất thuận tình ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 19/4/2012, chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H yêu cầu công nhận sự thỏa thuận giao con chung cho chị Nguyễn Thị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Huy không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuy nhiên hiện tại chị Nguyễn Thị không ở Việt Nam nên thống nhất nhờ mẹ đẻ chị là bà Lê Thị H thay chị chăm sóc cháu L trong thời gian chị chưa về nước.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và uỷ quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Nguyễn Thị H (chị gái chị ), sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 3, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

Anh Nguyễn Văn H có đơn xin giải quyết vắng mặt anh Huy tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị hiện đang lao động tại nước Cộng hòa liên bang Đức, có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng hòa liên bang Đức, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đồng thời chị X có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho chị Nguyễn Thị H (chị gái chị ), sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 3, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; anh Nguyễn Văn H có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân nhân gia đình. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị X, anh H theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn ngày 30/11/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên tranh cãi sau đó chị đi lao động tại Cộng hòa liên bang Đức và từ đó đến nay, mỗi người một nơi nên không có điều kiện chăm sóc nhau, hàn gắn mâu thuẫn nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay, các đương sự đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H không đạt được mục đích đó.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, chị X và anh H đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Quan hệ con chung: Cháu Nguyễn Hà L, sinh ngày 19/4/2012, lâu nay cháu đang ở với anh H, tuy nhiên do điều kiện anh cuộc sống anh H còn có nhiều khó khăn, công việc không ổn định, nay đây mai đó nên sự thỏa thuận của chị X và anh H về việc giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và trong thời gian chị chưa về nước thì nhờ bà Lê Thị H (mẹ đẻ chị oan) thay chị chăm sóc cháu L cho đến khi chị về Việt Nam và anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con, có quyền đi lại thăm nom con chung không bị ai cản trở là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của cháu L, nên cần căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

ét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị và anh Nguyễn Văn H.

2. Quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung Nguyễn Hà L, sinh ngày 19/4/2012 cho chị Nguyễn Thị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Trong thời gian chị X chưa về nước thì nhờ bà Lê Thị H (mẹ đẻ chị ) trực tiếp chăm sóc cháu L cho đến khi chị về Việt Nam.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 001283 ngày 26/02/2019 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấptrên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ