vanban.org

Quyết định 118/2021/QĐHG-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và bà Lê Thị T, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên…

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị T thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Khuy Tuyet"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và bà Lê Thị T, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên…
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TOÀ ÁN NHÂN DÂNHUYỆNTHUỶ NGUYÊN
Số: 118/2021/QĐHG-HNGĐ
Thuỷ Nguyên, ngày 16 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Lê Thị Hà

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hoà giải tại Tòa án ngày 30 tháng 6 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ việc hôn nhân và gia đình giữa:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khu 4, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh;

- Người bị kiện: Bà Lê Thị T, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khu 4, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và bà Lê Thị T, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tả Quan, xã Dương Quan, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn Tây, xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị T thuận tình ly hôn.

- Về con chung: con chung tên Nguyễn Văn Khanh, sinh năm 1983; Nguyễn Văn Kha, sinh năm 1985 và Nguyễn Văn Khá, sinh năm 1990 đều đã thành niên và có khả năng lao động nên ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ