- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "BTN - Công ty M"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của BTN.
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng Dân sự…; Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1161/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp:
Bà Bùi Ngọc Anh
Các Thẩm phán:
Bà Hà Thanh Thủy
Bà Phùng Thị Như Mai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia:
Bà Trương Thị Hồng Hoa-kiểm sát viên
- Thư ký phiên họp:
Bà Trịnh Ngọc Hân
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp phúc thẩm giải quyết vụ án thụ lý số 120/2019/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
Do quyết định dân sự sơ thẩm số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp bị kháng cáo.
Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm số 5677/2019/QĐ-PT ngày 18 tháng 11 năm 2019.
NHẬN THẤY
1- Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ Điều 159; điểm h khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011; điểm e khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; Khoản 2 Điều 273; Khoản 2 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng dịch vụ, giữa;
Nguyên đơn: BTN
Địa chỉ: 268-270 đường C, Phường C1, Quận C2, TP. Hồ Chí Minh
Bị đơn:
Công ty TNHH bệnh viện đa khoa M
Địa chỉ: 15-16 đường P, Phường P1, quận P2, TP. Hồ Chí Minh
2- Tại Đơn kháng cáo đề ngày 26-8-2019, BTN kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh với lý do:
Ngày 31-12-2014, Công ty TNHH bệnh viện đa khoa V (nay là Công ty TNHH bệnh viện đa khoa M) tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính cho kỳ kế toán từ ngày 01-01-2014 đến 31-12-2014 đã đề nghị BTN xác nhận số nợ là 90.000.000 đồng; BTNđã xác nhận số tiền Công ty Vcòn phải trả là 194.000.000 đồng.
BTN đã rất nhiều lần gửi văn bản yêu cầu thanh toán nhưng Công ty V cố tình không nhận văn bản yêu cầu thanh toán nợ, không xác nhận công nợ… để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
BTN khởi kiện đòi lại tiền còn nợ nên không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện, đề nghị Tòa án căn Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để xem xét giải quyết theo qui định.
3- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:
- Thẩm phán đã tuân thủ qui định tại Khoản 2 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm đúng qui định.
- Xét nội dung kháng cáo:
Ngày 08-7-2019, bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp với nguyên đơn.
Theo Điều 319 Luật Thương mại 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Hợp đồng quảng cáo số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 06-4-2012 ký giữa BTN và Công ty V có giá trị 501.000.000 đồng. Ngày 31-12-2014, hai bên có xác nhận công nợ theo yêu cầu kiểm toán của bị đơn thể hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn 194.000.000 đồng. Nguyên đơn có nhiều văn bản yêu cầu thanh toán nợ nhưng không nhận được phản hồi của bị đơn.
Trong hồ sơ vụ án không có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của hai bên. Như vậy, ngày quyền và lợi ích của nguyên đơn bị xâm phạm là ngày 31-12-2014. Ngày 11-9-2018, nguyên đơn khởi kiện là hết thời hiệu theo qui định của pháp luật.
Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đình chỉ giải quyết vụ án với lý do hết thời
hiệu khởi kiện là có căn cứ, kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở được chấp nhận.
Tuy nhiên, tại Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp có sai sót khi nhận định sai Hợp đồng quảng cáo mà nguyên đơn khởi kiện. Tại Đơn khởi kiện, buổi hòa giải ngày 17-6-2019 và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn đòi tiền gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng quảng cáo số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 06-4-2012 nhưng tại quyết định đình chỉ Tòa án quận Gò Vấp lại nhận định Hợp đồng quảng cáo số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 01-01-2016 là không đúng đối tượng khởi kiện.
Ngoài ra, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp viện dẫn qui định tại điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 làm lý do để đình chỉ là không phù hợp. Quyết định đình chỉ ban hành không đúng biểu mẫu số 45-DS (ban hành kèm thao Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao). Với những sai sót trên nên cần phải hủy quyết định đình chỉ, yêu cầu kháng cáo của BTNlà có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c Khoản 5 Điều 314 Bộ luật tố tụng Dân sự: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Báo thanh niên, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp và chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân quận Gò Vấp để giải quyết lại theo thủ tục chung.
XÉT THẤY
- Đơn kháng cáo của BTN nộp trong thời hạn qui định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Xét yêu cầu kháng cáo:
Tại Điều 3.2 trong Hợp đồng quảng cáo số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 06-4-2012 ký giữa BTN và Bệnh viện đa khoa V (nay là Công ty TNHH bệnh viện đa khoa M), các bên thỏa thuận phương thức thanh toán tổng giá trị lịch đăng quảng cáo của từng tháng trước 7 ngày kể từ ngày đăng sản phẩm quảng cáo.
Theo Đơn khởi kiện và các chứng cứ do nguyên đơn nộp thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán chi phí quảng cáo tổng cộng là 144.000.000 đồng, cụ thể chi phí quảng cáo của từng tháng như sau:
- Tháng 3-2012, số tiền:
18.000.000 đồng;
- Tháng 8-2012, số tiền:
36.000.000 đồng;
- Tháng 10-2012, số tiền:
36.000.000 đồng;
- Tháng 11-2012, số tiền:
18.000.000 đồng;
- Tháng 12-2012, số tiền:
36.000.000 đồng;
Đơn khởi kiện đề ngày 11-9-2018 của BTN nộp Tòa án nhân dân quận Gò Vấp là quá thời hạn khởi kiện 02 năm theo qui định tại điều 319 Luật Thương mại 2005.
Bản xác nhận công nợ theo yêu cầu kiểm toán ngày 31-12-2014 của Bệnh viện đa khoa Vđề nghị BTN xác nhận số nợ 90.000.000 đồng và BTN yêu cầu Công ty V thanh toán số tiền còn nợ là 194.000.000 đồng. Sau đó cho đến khi nguyên đơn khởi kiện, các bên không tiến hành đối chiếu công nợ hay thỏa thuận về thời hạn thanh toán. Trong quá trình thụ lý vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty TNHH bệnh viện đa khoa M có Đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện ngày 08-7-2019.
Như vậy, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đình chỉ giải quyết vụ án với lý do hết thời hiệu khởi kiện là phù hợp điểm e Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở được chấp nhận.
- Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Hợp đồng quảng cáo
số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 06-4-2012 nhưng tại quyết định đình chỉ Tòa án nhân dân quận Gò Vấp lại nhận định Hợp đồng quảng cáo số 1240/2012/HĐ.BTN ngày 01-01-2016 là không đúng đối tượng khởi kiện. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đã ban hành Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định số 147/2019/QĐ-SCBS ngày 14-10-2019.
- Tòa án nhân dân quận Gò Vấp viện dẫn qui định tại điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 là thừa vì Điều 2 của Nghị quyết này qui định: “Đối với các tranh chấp , yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động phát sinh trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng qui địh về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h Khản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng Dân sự số 24/2004/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12”. Nguyên đơn khởi kiện vào tháng 9 năm 2018 và trong Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đã viện dẫn điểm e Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án.
Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp ban hành không đúng biểu mẫu số 45-DS (ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao) nên cần phải rút kinh nghiệm: quyết định viện dẫn căn cứ Điều 218 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 qui định về hậu quả của việc giải quyết vụ án dân sự nhưng cần phải ghi rõ nội dung này trong quyết định.
Với những sai sót trên Hội đồng phúc thẩm thấy không cần thiết phải hủy quyết định đình chỉ theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Như vậy, Hội đồng phiên họp không chấp nhận kháng cáo của Báo Thanh Niên; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: BTN được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp.
- Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm nên đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của BTN.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 42/2019/QĐST-KDTM ngày 14-8-2019 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, cụ thể:
- Đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm được Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý số 91/2018/TLST-KDTM ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ, giữa:
Nguyên đơn: BTN
Địa chỉ: 268-270 đường C, Phường C1, Quận C2, TP. Hồ Chí Minh
Bị đơn:
Công ty TNHH bệnh viện đa khoa M
Địa chỉ: 15-16 đường P, Phường P1, quận P2, TP. Hồ Chí Minh
- Hậu quả của việc đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết vụ án dân sự:
Đương sự không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự này.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: BTN được nhận lại tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 5.940.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0001771 ngày 25-12-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Gò Vấp.
- Án phí phúc thẩm: BTN phải chịu án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0001577 ngày 12-9-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Gò Vấp
Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND cấp cao tại TP HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP HCM; - TAND quận Gò Vấp; - Chi cục THA quận Gò Vấp; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ (Hân). | TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Bùi Ngọc Anh |