vanban.org

Quyết định 116/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

của Bộ luật Lao động năm 2012; của Bộ luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 116/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Kiều Thị Uyên

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 237/2025/TLST-VLĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 113/2025/QĐST-LĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1981; Thường trú: Ấp C,

xã T, tỉnh An Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh An Giang, có

yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH V lạng mỏng ghép hình nghệ thuật P; địa chỉ: Đường số

B, khu công nghiệp Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố H, địa chỉ:

đường N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết anh Nguyễn Minh S1 bày:

Từ tháng 06 năm 2008 đến tháng 6 năm 2019 anh Nguyễn Minh S có làm

việc tại Công ty TNHH C và có đóng bảo hiểm xã hội số 8925654688.

Lý do anh S có nhiều số sổ bảo hiểm vì thời điểm tháng 7/2008 đến tháng

12/2008 anh S cho anh vợ của anh S là Trần Văn Đ, sinh năm 1972 mượn hồ sơ của tôi để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do anh S cho anh Trần Văn Đ mượn hồ sơ là vì thời điểm năm 2008 anh Đ không đủ điều kiện tham gia lao động nên mới mượn và sử dụng thông tin của anh S để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1 với mã số bảo hiểm là 7408188921 từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008.

Vì vậy, anh S có yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí

Minh giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động giữa anh Nguyễn Minh S (do anh Trần Văn Đ ký kết) với Công ty TNHH P1; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh với với mã số bảo hiểm xã hội là 7408188921 là vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Đ trình bày:

Tôi là anh vợ của anh Nguyễn Minh S, vào thời điểm năm 2008, tôi không

đủ điều kiện để ứng tuyển lao động do bị mất giấy tờ tuỳ thân, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên tôi tôi đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của em rể tôi là anh Nguyễn Minh S để làm hồ sơ lao động.

Tôi đã mượn thông tin cá nhân của anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1989 và

đã làm việc tại Công ty TNHH P1; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008 mã số bảo hiểm xã hội là 7408188921.

Thời điểm tôi mượn giấy tờ của anh Nguyễn Minh S vì tôi không đủ điều

kiện để giao kết hợp đồng lao động vì không hiểu biết về mặt pháp luật nên tôi mới mượn như vậy

Nay, đối với yêu cầu của anh Nguyễn Minh S về việc Tuyên Hợp đồng lao

động giữa anh Nguyễn Minh S (do ông Trần Văn Đ ký kết) với Công ty TNHH P1; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008 mã số bảo hiểm xã hội là 7408188921 vô hiệu thì anh Trần Văn Đ đồng ý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH P1 trình bày:

Công ty TNHH P1 đã được Tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống

đạt Quyết định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của yêu cầu của ông Nguyễn Minh S, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái

Thiêu (viết tắt là BHXH) trình bày:

Bảo hiểm xã hội (BHXH) cơ sở Lái Thiêu nhận được Quyết định số

237/QĐ-CCTLCC ngày 18/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cung cấp thông tin tham gia BHXH của anh Nguyễn Minh S trong vụ án "Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu" giữa anh Nguyễn Minh S với Công ty TNHH P1. BHXH cơ sở Lái Thiêu có ý kiến như sau:

Qua kiểm tra dữ liệu lưu trữ hiện có trên hệ thống của ngành BHXH, đổi

với thông tin họ tên ông Nguyễn Minh S, sinh năm 12/11/1981, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ở các mã số BHXH như sau:

Công ty TNHH P1; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí

Minh có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho anh Nguyễn Minh S với mã số BHXH 7408188921 từ tháng 07/2008 đến tháng 12/2008.

Ngoài ra, anh Nguyễn Minh S còn có mã số 8925654688 có quá trình tham

gia từ tháng 06/2008 đến tháng 6/2019 tại Công ty TNHH C; địa chỉ: khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát

biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành

theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của anh Nguyễn Minh S2 có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu anh Nguyễn Minh S; Người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Đ; người đại diện theo ủy quyền của Bảo

hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt; người đại diện

hợp pháp của Công ty TNHH P1 vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố

tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 12/2008, người lao động tên

Nguyễn Minh S giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1 và được Công ty TNHH P1 tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408188921. Tuy nhiên, anh S và anh Đ đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1 và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng tháng 7/2008 đến tháng 12/2008 là anh Trần Văn Đ (do anh S cho anh Đ mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai của anh S, anh Đ phù hợp với xác nhận của Bảo

hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH P1 trong khoảng thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 12/2008 là anh Trần Văn Đ, không phải là anh Nguyễn Minh S.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15

của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc anh Đ1 mượn hồ sơ cá nhân của anh S để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7408188921 từ tháng 7/2008 đến tháng 12/2008 tại Công ty TNHH P1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh

Nguyễn Minh S về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Nguyễn Minh S với Công ty TNHH P1 sổ bảo hiểm xã hội số 7408188921 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem

xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của anh S và ý kiến của anh S về việc xác định người lao động tại Công ty P1 trong giai đoạn từ tháng 7/2008 đến tháng 12/2008 là anh Trần Văn Đ, không phải là anh Nguyễn Minh S. Anh S và anh Đ có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408188921.

kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ

tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng c ng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Minh S phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52

của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51

của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh Nguyễn

Minh S.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Nguyễn Minh S với Công ty

TNHH P1 (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408188921) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7408188921 không

phải là anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1981, giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Anh Nguyễn Minh S và anh Trần Văn Đ được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7408188921.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Anh Nguyễn Minh S phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0008147 ngày 07/8/2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng

cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ