- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Võ phuoc q"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 115/2024/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 06 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Hiền.
Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố D mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 179/2024/TLST-LĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 95/2024/QĐST-LĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Ông Võ Phước Q, sinh năm 1984; thường trú: thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn D, sinh năm 1990; thường trú: thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C; địa chỉ: số E đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Tuấn L, là người đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: đường T, Khu T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Dương Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: A khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/7/2024), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai ông Võ Phước Q trình bày: Từ tháng 10/2008 đến tháng 10/2008, ông Q làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn A, sau khi nghỉ việc thì ông Q làm việc tại Công ty TNHH S và có tham gia bảo hiểm số 4707074674. Nay ông Q tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Cơ quan bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện thông tin của ông Q bị trùng.
Lý do bị trùng bảo hiểm: vào tháng 10/2008 đến tháng 01/2010, ông Võ Văn D là em họ của ông Võ Phước Q, đã sử dụng thông tin của ông Q để giao kết hợp đồng lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C.
Do đó, ông Q bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010, đây là thời gian ông D đã lấy chứng minh nhân dân của ông Q để làm sơ yếu lý lịch và ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C. Nay ông Q yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Võ Phước Q và Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 là vô hiệu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn D trình bày: Vào tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 ông D có lấy chứng minh nhân dân của ông Q để làm sơ yếu lý lịch và ký hợp đồng lao động làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C. Lý do ông D lấy chứng minh của ông Q là vì chưa đủ tuổi nên không thể ký hợp đồng lao động để đi làm.
Vào khoảng thời gian từ 10/2008 đến tháng 10/2008, ông Q làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn A, sau khi nghỉ việc thì ông Q làm việc tại Công ty TNHH S và có tham gia bảo hiểm số 4707074674. Nay ông Võ Phước Q yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Võ Phước Q (do ông Võ Văn D ký) với Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C thời gian từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 vô hiệu thì ông D đồng ý.
Về việc giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì ông D không có yêu cầu gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C cho người lao động thì Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho ông Võ Phước Q, sinh năm 1984, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7408105681 từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C đã nhận trợ cấp BHXH.
Ngoài ra, ông Võ Phước Q còn có mã số 7409016065 tham gia BHXH từ tháng 01/2009 đến tháng 03/2009 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn A1.
Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của ông Võ Phước Q, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của ông Võ Phước Q phía Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương không có ý kiến.
- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV C là ông Lê Tuấn L trình bày:
Việc ông Võ Văn D mượn hồ sơ của Võ Phước Q để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV C thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả. Hồ sơ lao động của Võ Phước Q hiện Công ty không còn lưu giữ nên không thể cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Do không còn lưu giữ nên Công ty TNHH MTV C không biết Võ Phước Q giao kết hợp đồng lao động với Công ty từ thời gian nào và thời gian bao lâu. Lỗi dẫn đến việc ký kết hợp đồng lao động vô hiệu giữa Công ty với Võ Phước Q là do Võ Phước Q và ông Võ Văn D. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu. Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Công ty không còn quyền lợi, trách nhiệm gì đối với ông Võ Phước Q.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: xét thấy, yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu..
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: ông Q, ông D, Bảo hiểm xã hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Quá trình tố tụng, các đương sự khai thống nhất: trong thời gian từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010, ông Võ Văn D có lấy thông tin của ông Võ Phước Q và được Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408105681. Quan hệ lao động giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C và ông Võ Phước Q phát sinh từ hợp đồng lao động tháng 10/2008. Tuy nhiên, ông Võ Phước Q và ông Võ Văn D thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C và thực tế làm việc tại Công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 theo hợp đồng lao động là ông Võ Văn D chứ không phải ông Võ Phước Q, do ông Võ Văn D đã lấy số chứng minh nhân dân, giấy tờ của ông Q để đi làm việc. Đối với ông Q trong thời gian này đang thực tế làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn A1, Công ty TNHH S. Trình bày của ông Q phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội thể hiện trong thời gian từ tháng 01/2009 đến tháng 03/2009 ông Võ Phước Q có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty trách nhiệm hữu hạn A1. Xét thấy, việc ông D lấy tên ông Q để giao kết hợp đồng lao động là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động. Do đó, việc ông Võ Phước Q yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 giữa ông Võ Phước Q (do ông Võ Văn D ký) với Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, các đương sự khác cũng thống nhất, không có tranh chấp. Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương đã cung cấp và chứng cứ do người yêu cầu cung cấp thì thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông Võ Phước Q bị trùng từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010. Do đó, ông Q yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa trách nhiệm hữu hạn MTV Chế biến gỗ C với ông Võ Phước Q (do ông Võ Văn D sử dụng thông tin của ông Q để ký) từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010 có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: ông Võ Phước Q phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động;
Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Võ Phước Q.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Võ Phước Q, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (do ông Võ Văn D ký) với Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV C (từ tháng 10/2008 đến tháng 01/2010) là vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: ông Võ Phước Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0001273 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục Thi hành án Dĩ An; - Các đương sự; - Hồ sơ; - Lưu./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNHỌP Phan Thị Hiền |