- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "QĐ việc lao động Nga-Ivory"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N: Tuyên bố hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.
- Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 51 Bộ luật Lao động; Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2024/QĐST-LĐ | Vũ Thư, ngày 08 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 11/2024/TLST-VLĐ ngày 23/7/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố Hợp động lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2024/QĐ-MPH ngày 02/8/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Ngƣời yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
2. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Công ty TNHH I; Địa chỉ: K+500 đường A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Tae C, chức vụ: Tổng giám đốc.
2.2. Bảo hiểm xã hội tỉnh T; Địa chỉ: Số G, đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh T.
2.3. Chị Phạm Thị Huyền T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18/7/2024 và bản tự khai trong quá trình tố tụng, người yêu cầu - chị Phạm Thị N trình bày:
Chị và Phạm Thị Huyền T1 là chị em họ. Năm 2010, chị đã cho chị Phạm Thị Huyền T1 mượn giấy chứng minh nhân dân của chị để chị Phạm Thị Huyền T1 ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH I vào ngày 26/4/2010. Chị T1 đã làm việc tại Công ty TNHH I theo Hợp đồng lao động đến tháng 02/2012 thì chị T1 xin nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị T1 tham gia bảo hiểm xã hội với tên Phạm Thị N theo số sổ 3410014883. Trong khi cùng thời điểm đó chị đang làm việc cho Công ty TNHH T2 tại thành phố T và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409005916. Tháng 01/2024, chị xin nghỉ việc và xin hưởng trợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên không làm được thủ tục thanh toán theo quy định do bảo hiểm xã hội mang tên chị có hai sổ và bị trùng thời điểm từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2012. Để đảm bảo quyền lợi của chị và chị Phạm Thị Huyền T1, chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu; đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Công ty TNHH I trình bày: Thời gian từ ngày 26/5/2010 đến ngày 25/5/2011, Công ty TNHH I ký kết hợp đồng lao động với chị Phạm Thị N, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, số CMTND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 22/3/2008. Ngày 26/5/2011, Công ty T3 ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm với chị Phạm Thị N, thời hạn đến ngày 25/5/2012. Tháng 02/2012, chị N xin nghỉ việc tại Công ty và sau đó không ký thêm hợp đồng lao động nào khác với Công ty TNHH I. Quá trình làm việc tại Công ty, Công ty đã đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho chị Phạm Thị N theo số sổ 3410014883. Thời điểm từ tháng 5/2010 đến tháng 02/2012, Công ty TNHH I không ký kết hợp đồng lao động với chị Phạm Thị Huyền T1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Việc chị Phạm Thị Huyền T1 lấy tên chị Phạm Thị N để ký kết hợp đồng lao động với Công ty, Công ty không biết. Đối với yêu cầu của chị Phạm Thị N, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Bảo hiểm xã hội tỉnh T trình bày: Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Phạm Thị N từ tháng 11/2008 đến tháng 01/2024 tại Công ty TNHH T2 theo sổ BHXH số 3409005916 là 14 năm 11 tháng BHXH, BHYT và 13 năm 2 tháng BHTN (chưa lĩnh BHXH một lần và chưa lĩnh trợ cấp thất nghiệp), tổng số tiền đã đóng BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2012 là 7.348.938 đồng, trong đó người sử dụng lao động đóng 5.150.120 đồng, người lao động đóng 2.198.818 đồng. Thời gian đóng BHXH, BHYT, BHTN của bà Phạm Thị N từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2012 tại Công ty TNHH I theo sổ BHXH số 3410014883 là 01 năm 9 tháng (chưa lĩnh BHXH một lần và chưa lĩnh trợ cấp thất nghiệp), tổng số tiền BHXH, BHYT, BHTN đã đóng là 7.539.520 đồng, trong đó người sử dụng lao động đóng 5.284.540 đồng, người lao động đóng 2.254.98 đồng. Nay bà Phạm Thị N đề nghị tuyên bố hợp đồng lao động ký kết giữa bà Phạm Thị Huyền T1 nhưng lấy tên là Phạm Thị N với Công ty TNHH I vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Bảo hiểm xã hội tỉnh đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Phạm Thị Huyền T1 trình bày: Chị và chị Phạm Thị N là chị em họ. Năm 2010, do chưa đủ tuổi ký hợp đồng lao động nên chị đã mượn giấy chứng minh nhân dân của chị Phạm Thị N để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I. Chị là người viết, ký vào hồ sơ xin việc mang tên chị Phạm Thị N. Chị làm việc tại Công ty TNHH I từ tháng 4/2010 đến tháng 02/2012 thì nghỉ việc. Quá trình làm việc tại Công ty, chị tham gia bảo hiểm xã hội với tên chị Phạm Thị N theo số sổ 3410014883. Trong khi cùng thời điểm đó chị Phạm Thị N đang làm việc cho Công ty TNHH T2 tại thành phố T và tham gia bảo hiểm xã hội theo số sổ 3409005916. Nay chị Phạm Thị N đề nghị tuyên bố Hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I vô hiệu, đề nghị Toà án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, chị đề nghị Toà án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị: Đề nghị Tòa án căn cứ vào các Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 15, Điều 50, Điều 51 Bộ luật lao động năm 2019, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người tham gia ký kết) và Công ty TNHH I là vô hiệu. Chị Phạm Thị N và Phạm Thị Huyền T1 có quyền liên hệ với Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3410014883 từ Phạm Thị N thành Phạm Thị Huyền T1. Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc lao động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người lao động ký kết và thực hiện Hợp đồng lao động với Công ty TNHH I có địa chỉ trụ sở tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vì vậy Tòa án huyện V, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Về việc áp dụng pháp luật: Hợp đồng lao động mà chị Phạm Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được ký kết vào năm 2010 và năm 2011 khi Bộ luật Lao động năm 1994 đang có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, do Bộ luật Lao động năm 1994 không có điều luật quy định về hợp đồng lao động vô hiệu. Do đó Tòa án căn cứ các quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019 để giải quyết yêu cầu của chị Phạm Thị N trong việc dân sự này.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của chị Phạm Thị N đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu, thì thấy: Việc chị Phạm Thị Huyền T1 mượn giấy tờ (Giấy chứng minh nhân dân) của chị Phạm Thị N, nhận mình là chị Phạm Thị N để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH I là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Bộ luật Lao động năm 2012, khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, do đó yêu cầu của chị Phạm Thị N là có căn cứ chấp nhận. Cần tuyên bố hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.
Đối với yêu cầu của chị Phạm Thị N đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: Căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ: Xét thấy: mặc dù có sự lừa dối khi ký hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị Huyền T1 (Hồ sơ mượn tên Phạm Thị N) với Công ty TNHH I nhưng trên thực tế chị Phạm Thị Huyền T1 có làm việc tại Công ty, có đóng bảo hiểm xã hội và quá trình làm việc Công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị Phạm Thị Huyền T1 (mang tên Phạm Thị N, số sổ là 3410014883). Do vậy cần giao cho các cơ quan chức năng có liên quan đến Hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty TNHH I và chị Phạm Thị N (do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) điều chỉnh tên Phạm Thị N trên sổ Bảo hiểm xã hội số 3410014883 thành Phạm Thị Huyền T1. Chị Phạm Thị N và Phạm Thị Huyền T1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Phạm Thị N thành Phạm Thị Huyền T1.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, điểm b khoản 1 Điều 49, Điều 50, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019, Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ - CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị N: Tuyên bố hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/4/2010 và hợp đồng lao động số 5937 ngày 26/5/2011 ký kết giữa người lao động là Phạm Thị N (nhưng do chị Phạm Thị Huyền T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là công ty TNHH I vô hiệu.
2. Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Giao cho các cơ quan chức năng có liên quan điều chỉnh thông tin nhân thân tại sổ bảo hiểm số 3410014883 từ Phạm Thị N, sinh năm 1983; nơi cư trú: T, V, Thái Bình, số CMND xxxxxxxxx do Công an tỉnh T cấp ngày 22/3/2008 thành Phạm Thị Huyền T1, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 03/7/2021. Chị Phạm Thị N và chị Phạm Thị Huyền T1 có quyền liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh T để làm thủ tục điều chỉnh thông tin nhân thân từ Phạm Thị N thành Phạm Thị Huyền T1.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Phạm Thị N đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001699 ngày 23/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V thành tiền lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Phạm Thị N, Công ty TNHH I, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình, chị Phạm Thị Huyền T1 có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định này./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ; - Lưu HCTP./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thanh Bình |