vanban.org

Quyết định 109/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T (Giấy chứng nhận kết hôn số 84, tại UBND phường P , quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 31/08/2010 không còn giá trị pháp lý). Về nuôi con chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác định có 2 con chung là Đặng An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LU HÔN"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN S – TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 109/2023/QĐST-HNGĐSơn Trà, ngày 05 tháng 06 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP. ĐÀ NẴNG

Căn cứ các Điều 212, 213 và Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc HNGĐ thụ lý số 100/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 05 năm 2023 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Ông Đặng Văn K - Sinh năm: 1985. Trú tại: 208 Lê T, phường, Quận S, TP. Đà Nẵng.

- Bà Trần Thị T - Sinh năm: 1985. Trú tại: 208 Lê T, phường T, Quận S, TP. Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 84, tại UBND phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 31/08/2010. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại phiên hòa giải ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác nhận vợ chồng kết hôn vào năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận S, TP. Đà Nẵng theo giấy chứng nhận số 84. Trong cuộc sống vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay về tình cảm ông K và bà T xác định không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục sống với nhau sẽ dẫn dắt đến nhiều vấn đề mâu thuẫn khác. Nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà.

Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa ông K và bà T lại không làm được điều này. Tại phiên hòa giải thì ông K và bà T đều xác định không còn tình cảm với nhau. Xét thấy, hiện mâu thuẫn của ông K và bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông K và bà T là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác định có 2 con chung là Đặng Anh K , sinh ngày 01/01/2017 và Đặng Trần Nhật V, sinh ngày 04/01/2012. Ly hôn hai bên đã thỏa thuận và thống nhất giao con chung Đặng Trần Nhật V cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Đặng Anh K cho ông Đặng Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Xét yêu cầu thỏa thuận nuôi con chung của ông K và bà T không trái pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên chấp nhận phù hợp với các Điều 81, 82 và 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình .

Về nợ chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác định vợ chồng không có nợ chung.

Về tài sản chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T không có tài sản chung.

Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng, Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng do Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T đã nộp tại biên lai thu số 0003745 ngày 11 tháng 05 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó theo quy định tại Điều 212, 213, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T (Giấy chứng nhận kết hôn số 84, tại UBND phường P , quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 31/08/2010 không còn giá trị pháp lý).

- Về nuôi con chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác định có 2 con chung là Đặng Anh K , sinh ngày 01/01/2017 và Đặng Trần Nhật V, sinh ngày 04/01/2012. Ly hôn hai bên đã thỏa thuận và thống nhất giao con chung Đặng Trần Nhật V cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Đặng Anh K ch ông Đặng Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về nợ chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T xác định vợ chồng không có nợ chung.

- Về tài sản chung: Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T không có tài sản chung.

2. Về lệ phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng, Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng do Ông Đặng Văn K và bà Trần Thị T đã nộp tại biên lai thu số 0003745 ngày 11 tháng 05 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ