- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Vĩnh Trinh yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 108/2025/QĐST-VLĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ
“ lý số: 204/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về việc Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 85/2025/QĐST-VLĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị Vĩnh T, sinh năm: 1987; thường trú:
Khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (nay là khóm T, xã P, tỉnh An Giang). Có yêu cầu vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1991; thường trú: Ấp A, xã A, huyện
C, tỉnh An Giang (nay là ấp A, xã B, tỉnh An Giang). Có yêu cầu vắng mặt.
2. Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear; địa chỉ: Số A, đường số C, khu
công nghiệp V T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: đường N, phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh. Có yêu cầu vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết bà Nguyễn Thị Vĩnh T trình bày: Từ tháng 11/2009 đến tháng 01/2024 bà Nguyễn Thị Vĩnh T làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia bảo hiểm xã hội số 7409296592. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2009, bà Nguyễn Thị Vĩnh T cho bà Nguyễn Thị Thúy A mượn chứng minh nhân dân để vào làm việc tại Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear và tham gia bảo hiểm xã hội số 9107069441. Bà T xác định người ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear là bà Nguyễn Thị Thúy A. Do hiểu biết pháp luật hạn chế, để bà A tìm được việc làm có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình nên bà T mới cho mượn chứng minh nhân dân để đi xin việc. Vì vậy, bà T bị trùng bảo hiểm xã hội trong thời gian cho bà A mượn thông tin cá nhân để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bà T yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Nguyễn Thị Vĩnh T (do bà Nguyễn Thị Thúy A là người ký kết) với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear trong khoảng thời gian làm từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2009 là vô hiệu. Bà Nguyễn Thị Vĩnh T không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thúy A thống
nhất trình bày của bà Nguyễn Thị Vĩnh T. Để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của bà T, bà A đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Vĩnh T. Bà Nguyễn Thị Thúy A không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở T1 xác định:
Bà Nguyễn Thị Vĩnh T có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT) theo các số sổ BHXH: Từ tháng 11/2009 đến tháng 01/2024 bà Nguyễn Thị Vĩnh T làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia bảo hiểm xã hội số 7409296592. Từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2009, bà Nguyễn Thị Vĩnh T cho bà Nguyễn Thị Thúy A mượn chứng minh nhân dân để vào làm việc tại Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear và tham gia bảo hiểm xã hội số 9107069441.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH K (Việt Nam)
Footwear không có ý kiến gì.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Vĩnh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy A, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Vĩnh T là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Vĩnh T, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thúy A, Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2009, người lao động
tên Nguyễn Thị Vĩnh T giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear và được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số sổ BHXH 9107069441. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Vĩnh T và bà Nguyễn Thị Thúy A đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear và thực tế làm việc tại công ty T2 khoảng thời gian từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2009 là bà Nguyễn Thị Vĩnh T (do bà Nguyễn Thị Vĩnh T cho bà Nguyễn Thị Thúy A mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).
Xét thấy, lời khai của bà Nguyễn Thị Vĩnh T và bà Nguyễn Thị Thúy
A phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở T. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 01/2024 bà Nguyễn Thị Vĩnh T làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia bảo hiểm xã hội số 7409296592. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear trong khoảng thời gian tháng 05/2007 đến tháng 09/2009 là bà Nguyễn Thị Thúy A, không phải là bà Nguyễn Thị Vĩnh T.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Nguyễn Thị Thúy A mượn hồ sơ cá nhân của bà Nguyễn Thị Vĩnh T để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 9107069441 từ tháng 05/2007 đến tháng 9/2009 tại Công ty TNHH K (Việt Nam) F là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà
Nguyễn Thị Vĩnh T về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Vĩnh T với Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear (theo sổ bảo hiểm xã hội số 9107069441) bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem
xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Vĩnh T về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH K (Việt Nam) Footwear trong giai đoạn từ tháng 05/2007 đến tháng 9/2009 là bà Nguyễn Thị Thúy A, không phải là bà Nguyễn Thị Vĩnh T. Bà Nguyễn Thị Vĩnh T và bà Nguyễn Thị Thúy A có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 9107069441.
Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ
Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Vĩnh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, các Điều 50, 51 và 52 của Bộ
luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị
Vĩnh T.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Vĩnh T với Công ty
TNHH K (Việt Nam) Footwear (Theo sổ bảo hiểm xã hội số 9107069441) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 9107069441 không
phải là bà Nguyễn Thị Vĩnh T, sinh năm 1987; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị Vĩnh T và bà Nguyễn Thị Thúy A được quyền liên hệ với C có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7412061740.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị Vĩnh T phải
chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0007294 ngày 04/8/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Chu Thị Vân |