vanban.org

Quyết định 1074/2026/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc N.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn H; Sinh năm 1953; Nơi cư trú: Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội) mất năng lực hành vi dân sự. Ông Nguyễn Ngọc N là người giám hô ̣đương nhiên của ông Nguyễn Văn H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hô ̣được quy định tại cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGUYỄN NGỌC NINH - NGUYỄN VĂN HOẰNG - Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc N.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
---------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1074/2026/QĐST-VDSHà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tô Việt Anh.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 748/2026/TLST-VDS ngày 20 tháng 8 năm 2026 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số 1193/2026/QĐPH-ST ngày 03 tháng 9 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội)

* Người bị yêu cầu:

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1953

Nơi cư trú: Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hương L, sinh năm 1980 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1957

Nơi cư trú: Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 24/7/2026 và lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Ngọc N trình bày:

Ngày 30/4/2025, ông Nguyễn Văn H ngã trong nhà tắm sau đó được gia đình đưa đi khám và điều trị tại Bệnh viện T1 với lý do Hôn mê. Ngày 31/5/2025 xuất viện với chẩn đoán: Hôn mê do chảy máu não nặng: máu tụ dưới màng cứng vùng trán phải và bán cầu trái; chảy máu dưới nhện tại bề mặt tiểu não phải, rãnh liên bán cầu, bề mặt nhu mô vùng trán – đỉnh hai bên và thái dương trái; dập não vùng trán phải. Đã phẫu thuật mở sọ [164]. Bệnh kèm theo: viêm phổi, đái tháo đường, tăng huyết áp.

Ngày 16/7/2025, ông Nguyễn Văn H được gia đình đưa đi khám và điều trị tại Bệnh viện T1 với lý do liệt hoàn toàn nửa người bên phải.

Tại Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án số 5491; Số hồ sơ/số BA: 26697556/BH-43914 của Khoa Y học cổ truyền (A10) thuộc Bệnh viện TWQĐ 108 – Bộ Q kết luận: “Ông Nguyễn Văn H được xác định liệt nửa người phải, hôn mê do chảy máu não đã phẫu thuật mở sọ giải chèn ép tháng thứ 2 [G81] Tăng huyết áp giai đoạn III. Bệnh đái tháo đường type II. Rung nhĩ”

Ngày 22/8/2026, các giám định viên thuộc Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đến khám giám định sức khoẻ tâm thần cho ông Nguyễn Văn H tại Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội) và đưa ra kết luận tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 505/KL-VPYTW ngày 28/8/2026: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn H bị bệnh: Mất trí sau chấn thương sọ não. Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F02.8. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Hiện nay, ông Nguyễn Văn H mất khả năng đi lại và chỉ có thể nằm một chỗ. Mọi sinh hoạt cá nhân hằng ngày đều phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình. Đồng thời, ông H đã mất hoàn toàn khả năng nhận thức, không thể giao tiếp bình thường, không nhận biết rõ người thân và sự việc xung quanh.

Trong quá trình thực tế sinh sống, ông Nguyễn Ngọc N nhận thấy tình trạng của ông Nguyễn Văn H hiện nay trầm trọng, thuộc trường hợp mất hoàn toàn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Do đó, ngày 24/7/2026 có làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, ông Nguyễn Ngọc N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn H mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời công nhận ông N (con trai) là người giám hộ của ông Nguyễn Văn H.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị T, Bà Nguyễn Hương L trình bày: Thống nhất toàn bộ trình bày của ông Nguyễn Ngọc N và đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên họp:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ; lời trình bày của các đương sự trong vụ việc và kết luận của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn H mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông N, tuyên bố ông H mất năng lực hành vi dân sự.

Đối với đề nghị cử ông Nguyễn Ngọc N làm người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Ngọc N là người giám hộ đương nhiên của ông H khi ông H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội nhận định:

Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Giấy khai sinh số 268 ngày 27/9/1983 của Ủy ban nhân quận H, thành phố Hà Nội có cơ sở xác định ông Nguyễn Ngọc N là con của ông Nguyễn Văn H. Do đó, có cơ sở xác định ông Nguyễn Ngọc N (con) có đủ tư cách pháp lý để yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Văn H mất năng lực hành vi dân sự.

Ông Nguyễn Ngọc N yêu cầu Toà án tuyên bố ông Nguyễn Văn H mất năng lực hành vi dân sự là yêu cầu về dân sự, và ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 27, Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc N:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cùng lời trình bày của người yêu cầu là ông N, xác định: Sau khi bị tai biến mạch máu não do xuất huyết não, di chứng rất nặng nề khiến ông Nguyễn Văn H bị liệt nửa người phải, mất khả năng đi lại, phải nằm một chỗ. Mọi hoạt động sinh sống của ông Nguyễn Văn H đều do con trai và người trong gia đình hỗ trợ thực hiện.

Căn cứ Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 505/KL-VPYTW ngày 28/8/2026 của Viện pháp y Tâm thần B kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn H bị bệnh: Mất trí sau chấn thương sọ não. Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F02.8. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Từ những căn cứ trên, Toà án xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông N về việc tuyên bố ông H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu cử ông Nguyễn Ngọc N làm người đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Văn H có vợ là bà Bùi Thị T, sinh năm 1957, ông bà có ba người con là: ông Nguyễn Ngọc L1 (đã mất năm 2009); ông Nguyễn Ngọc N và bà Nguyễn Hương L. Bà Bùi Thị T và bà Nguyễn Hương L đều đồng ý cử ông Nguyễn Ngọc N là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn H. Việc thỏa thuận của các thành viên trong gia đình đồng ý để ông Nguyễn Ngọc N là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn H không trái quy định của của Pháp luật nên được Hội đồng xét xử căn cứ Điều 53 của Bộ luật Dân sự chấp nhận ông Nguyễn Ngọc N là giám hộ đương nhiên của ông Nguyễn Văn H.

Về lệ phí dân sự: Ông Nguyễn Ngọc N phải nộp tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 150, Điều 361, Điều 372 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 22, Điều 46, Điều 47, Điều 49, Điều 53 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc N.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn H; Sinh năm 1953; Nơi cư trú: Số A Đ, phường H, thành phố Hà Nội (Nay là số F Bạch Đằng T, phường H, thành phố Hà Nội) mất năng lực hành vi dân sự.

2. Ông Nguyễn Ngọc N là người giám hô ̣đương nhiên của ông Nguyễn Văn H. Quyền và nghĩa vụ của người giám hô ̣được quy định tại các Điều 57, 58 Bô ̣luâ ̣t Dân sự.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004318 ngày 20/8/2026 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ