vanban.org

Quyết định 104/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/12/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T.

Về con chung: Công nhận sự thoả thuận giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T về việc giao con chung Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Chấp nhận đề nghị của anh Nguyễn Văn S, tạm giao cháu Nguyễn Văn T1 cho bà Đoàn Thị H1 chăm sóc thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 104/2024/QĐST-HNGĐ
Ngày 27/12/2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hải Bằng

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 620/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2024 về Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 593/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 19/12/2024 gồm những người tham gia tố tụng sau:

1. Người yêu cầu:

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2000; địa chỉ đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; hiện ở: Nhật Bản.

- Chị Đặng Thị T, sinh năm 2003; địa chỉ đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; hiện ở: Nhật Bản.

Người được anh S, chị T uỷ quyền giao nhận văn bản: Anh Đoàn Hồng H, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà A đường T, khu dân cư K, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị H1, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc, giấy uỷ quyền, bản tự khai cùng các tài liệu trong hồ sơ vụ án, người yêu cầu là anh Nguyễn Văn S, chị Đặng Thị T và người đại diện là anh Đoàn Hồng H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 16/7/2021 tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp về tính cách, lối sống, cư xử, mâu thuẫn về kinh tế nên vợ chồng thường xảy ra tranh cãi. Hai bên gia đình đã động viên, hoà giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Năm 2023 vợ chồng lần lượt đi Nhật Bản lao động nhưng không chung sống cùng nhau và ít khi liên lạc. Nay anh S, chị Thu N thấy không còn tình cảm nên thống nhất yêu cầu Toà án công nhận thuận tình ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Anh S và chị T có 01 con chung là Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022, hiện đang ở cùng bà nội là bà H1. Anh S và chị T thống nhất anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành; vợ chồng tự thoả thuận về chi phí cấp dưỡng. Do hiện anh S ở Nhật Bản nên uỷ quyền cho bà H1 chăm sóc cháu T1 khi anh S không ở Việt Nam, chi phí chăm sóc anh S và chị T sẽ gửi về cho bà H1, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh S và chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về lệ phí: Anh S và chị T thống nhất chị T chịu toàn bộ lệ phí.

- Anh S và chị T đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt; uỷ quyền cho anh Đoàn Hồng H giao nhận văn bản với Toà án. Anh H đồng ý nhận uỷ quyền và cam kết thực hiện đúng nội dung uỷ quyền của anh S và chị T.

Tại đơn đề nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị H1 trình bày: Bà là mẹ đẻ anh S, chị T là vợ anh S. Chị T và anh S có 01 con chung là Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022, cháu T1 ở với bà từ nhỏ đến nay do chị T, anh S lao động ở nước ngoài. Hàng tháng chị T, anh S đều gửi tiền về để chăm sóc cháu. Nếu anh S và chị T ly hôn và anh S được giao quyền nuôi con thì bà H1 đồng ý thay anh S chăm sóc cháu T1 khi anh S vắng nhà. Bà H1 đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên họp:

- Các đương sự đều vắng mặt.

- Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Về việc tuân theo pháp luật, từ khi thụ lý đến phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp, người tham gia tố tụng cơ bản chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết việc hôn nhân và gia đình, đề nghị Thẩm phán áp dụng quy định của pháp luật, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T; công nhận sự thoả thuận giữa anh S và chị T về việc giao con chung Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; chấp nhận yêu cầu của anh S tạm giao cháu T1 cho bà H1 chăm sóc thay trong thời gian anh S không ở Việt Nam; công nhận sự thoả thuận của anh S và chị T về việc không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung; chị T chịu cả lệ phí giải quyết việc (đã nộp).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh S và chị T yêu cầu Toà án công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con chung. Anh S, chị T đăng ký thường trú tại tỉnh Hải Dương nhưng hiện đang ở nước ngoài. Do đó căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết việc hôn nhân và gia đình là đúng thẩm quyền.

Về tính hợp pháp của văn bản: Các văn bản của anh S, chị T ở nước ngoài lập bằng tiếng Việt, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài nên công nhận các văn bản này theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 478 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên họp, các đương sự đều vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 BLTTDS, Toà án tiến hành phiên họp giải quyết vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị T tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp về tính cách, lối sống, cư xử, mâu thuẫn về kinh tế nên vợ chồng thường xảy ra tranh cãi. Từ năm 2023 vợ chồng lần lượt đi Nhật Bản nhưng không chung sống cùng nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh S và chị T đã trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được và hai bên thật sự tự nguyện ly hôn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Anh S và chị T có 01 con chung là Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022, hiện đang ở cùng bà nội là bà H1. Anh S và chị T thoả thuận anh S là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng. Xét thấy nội dung các đương sự thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của con chung nên có căn cứ chấp nhận. Anh S uỷ quyền cho bà H1 thay anh chăm sóc cháu T1 trong thời gian anh không ở Việt Nam thì bà H1 đồng ý, cháu T1 cũng ở với bà H1 từ nhỏ đến nay do chị T, anh S lao động ở nước ngoài nên có căn cứ chấp nhận đề nghị này của anh S.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh S và chị T thống nhất không yêu cầu nên cần chấp nhận.

Về lệ phí: Anh S và chị T thống nhất chị T chịu cả lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm h khoản 2 Điều 39, điểm c khoản 2 Điều 478, khoản 2 Điều 367, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T.

2. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T về việc giao con chung Nguyễn Văn T1 sinh ngày 01/01/2022 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Chấp nhận đề nghị của anh Nguyễn Văn S, tạm giao cháu Nguyễn Văn T1 cho bà Đoàn Thị H1 chăm sóc thay trong thời gian anh S không ở Việt Nam.

Chị Đặng Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Công nhận sự thoả thuận giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T về việc không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

4. Về lệ phí: Công nhận sự thoả thuận giữa anh Nguyễn Văn S và chị Đặng Thị T về việc chị Đặng Thị Thu C cả 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm, đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng anh Đoàn Hồng H đã nộp thay tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 22/11/2024 theo biên lai ký hiệu BLTU/23, số 0005361; chị T đã nộp đủ.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ