- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Việc HNGĐ: Trần Thị Huyền T - Phạm Tiến Q"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 100/2022/QĐST-HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 21 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Ngô Khánh Chi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý 137/2022/TB-TLVA ngày 12 tháng 7 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 98/2022/QĐ-TA ngày 13 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Chị Trần Thị Huyền T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khối B, phường B, thị xã B, Hà Tĩnh. Có mặt.
2. Anh Phạm Tiến Q, sinh năm 1986. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối B, phường B, thị xã B, Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan. Đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của chị Trần Thị Huyền T, ý kiến thống nhất toàn bộ yêu cầu ly hôn của anh Phạm Tiến Q, cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc dân sự có nội dung:
* Về tình cảm: Chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q đăng ký kết hôn vào ngày 09/4/2010 tại UBND xã T, thị xã B, Hà Tĩnh. Kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Q và chị T chung sống được một thời gian ngắn thì năm 2011 anh Q đi lao động tại nước ngoài đến năm 2013 chị T cũng gửi con cho mẹ chồng và sang Đài Loan lao động cùng anh Q. Cuối năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thiếu sự tin tưởng và bất đồng quan điểm. Năm 2017, chị T sang lao động tại Macao và hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau từ đó đến nay khiến đời sống hôn nhân ngày càng phai nhạt thêm. Anh Q và chị T đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc.
Đến nay, hai vợ chồng cùng xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, hàn gắn nên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh ngày 25/7/2011. Cả hai thống nhất giao con chung là cháu Phạm Tuấn A cho chị Trần Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Phạm Tiến Q sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cấm.
* Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 28, 37, 227, 469, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 57, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự. Công nhận chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q thuận tình ly hôn, các vấn đề khác đương sự không yêu cầu, đã thống nhất nên không xem xét.
Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện nộp lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trần Thị Huyền T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Anh Phạm Tiến Q đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Phạm Tiến Q theo thủ tục chung.
Tại Công văn số 13492/QLXNC-P5 ngày 29/6/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện “Anh Phạm Tiến Q, sinh ngày 27/10/1986 lần xuất cảnh gần nhất ngày 28/6/2019 qua Cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài và chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Quá trình giải quyết, anh Phạm Tiến Q thông qua hình thức gọi điện thoại đã trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Trần Thị Huyền T khởi kiện. Theo đó, anh Phạm Tiến Q đồng ý toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huyền T. Đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Huệ, trú tại Khối B, phường B, thị xã B, Hà Tĩnh. Trên tinh thần Công văn số 253/TANDTCPC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án sẽ tống đạt các tài liệu, văn bản tố tụng cho người được ủy quyền giao nhận tài liệu của đương sự hiện đang ở nước ngoài và quyết định chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án Hôn nhân gia đình thành việc Hôn nhân gia đình.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q được xây dựng trên cơ sở tình yêu, tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, có đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 9, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì anh Q đi lao động tại nước ngoài và hai năm sau chị T cũng gửi con cho mẹ chồng và sang Đài Loan lao động cùng anh Q. Cuối năm 2016, vợ chồng anh Q chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn cho đến năm 2017, khi chị T sang lao động tại Macao thì hai vợ chồng đã không còn liên lạc với nhau kể từ đó. Do quan điểm sống và cách suy nghĩ của mỗi người hoàn toàn khác nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng đi đến rạn nứt. Anh Q và chị T đều thừa nhận đã không còn tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn, níu kéo cũng không hạnh phúc. Hai vợ chồng đều khẳng định không thể tiếp tục gắn bó tình cảm nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn…” (Điều 55).
Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q hiện nay không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai vợ chồng đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T, anh Q như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận ly hôn giữa các đương sự, giải quyết cho chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q được thuận tình ly hôn là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ con chung:
Chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q thống nhất giao con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh ngày 25/7/2011 cho chị Trần Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Phạm Tiến Q sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cấm.
Cháu Phạm Tuấn A cũng có đơn nguyện vọng muốn được ở với mẹ là chị Trần Thị Huyền T.
Sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn của chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q cùng nguyện vọng của cháu Phạm Tuấn A là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung.
Cần công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau ly hôn của các đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.
Về án phí: Chị Trần Thị Huyền T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 29, 35, 37, 39, 227, 361, 367, 369, 370, 371, 469, 479 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 3 Điều 2, các Điều 19, 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Huyền T và anh Phạm Tiến Q.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh ngày 25/7/2011 cho chị Trần Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Phạm Tiến Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai ngăn cấm.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trần Thị Huyền T theo biên lai số 0000248 ngày 08/7/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
6. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 21/9/2022.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND nơi ĐKKH; - Đương sự ; - Lưu HS, TDS. | THẨM PHÁN – CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thương Huyền |