vanban.org

Quyết định 10/2026/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 401 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Nghị quyết số 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? 39; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 401 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2026/QĐST-LĐThành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Tô Thị Ngọc Phượng.

Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên họp: bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành

phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/2025/TLST-LĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 120/2026/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Bà Phan Thị Ngọc C; Địa chỉ: Ấp V, xã C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thúy H, sinh năm 2000; Địa chỉ liên hệ: E

K, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

- Bà Phan Thị Hoa L; Địa chỉ: Ấp M, M, T (nay là xã C), tỉnh Vĩnh Long.

- Công ty TNHH H1; Địa chỉ: số B đường số C, phường A, Thành phố Hồ

Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thụy Ngọc Huyền T theo Giấy ủy quyền ngày 24/11/2025.

(Bà H, bà L và bà T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 10/9/2025, bà Phan Thị Ngọc C

có người đại diện theo ủy quyền – bà Cao Thúy T1 trình bày:

Vào năm 2012, do hoàn cảnh khó khăn và chưa đủ tuổi đi làm nên bà Phan

Thị Hoa L (là cháu họ của bà Phan Thị Ngọc C) có mượn chứng minh nhân dân của bà C để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH H1; Địa chỉ: B đường số C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc tại Công ty, có tham gia bảo hiểm xã hội có mã số sổ là 7912254477. Đến 06/2015 thì bà L nghỉ việc tại Công ty H1.

Đồng thời, từ 03/2015 đến tháng 01/2022, bà C ký kết hợp đồng lao động

với Công ty TNHH H2 và tham gia bảo hiểm xã hội, số sổ là 7515119798. Bà C có liên hệ với Bảo hiểm xã hội để làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội thì phát hiện chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của mình có 02 số sổ bảo hiểm xã hội như nêu trên nên bà không thể thực hiện thủ tục rút bảo hiểm xã hội được, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà C.

Nay bà Phan Thị Ngọc C yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được

giao kết giữa bà Phan Thị Ngọc C (nhưng do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) với Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015 là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Hoa L trình bày:

Năm 2012, do hoàn cảnh khó khăn và bản thân chưa đủ tuổi đi làm nên tôi

có mượn chứng minh nhân dân của bà Phan Thị Ngọc C để làm hồ sơ xin việc tại Công ty TNHH H1. Theo đó, tôi có ký hợp đồng lao động và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015 mã số bảo hiểm xã hội là 7912254477. Tuy nhiên, từ 03/2015 đến tháng 01/2022 thì bà C có ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội với Công ty TNHH H2 với mã sổ bảo hiểm xã hội là 7515119798. Bà C có làm thủ tục rút bảo hiểm xã hội nhưng do phát hiện bị trùng quá trình đóng bảo hiểm xã hội nên không thể rút được. Nay bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động giữa bà C (nhưng do tôi thực hiện) với Công ty TNHH H1 là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu thì tôi đồng ý với yêu cầu trên và không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Công ty TNHH H1 do bà Đinh Thụy

Ngọc Huyền T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty TNHH H1 xác nhận bà Phan Thị Ngọc C có ký kết hợp đồng lao

động và làm việc tại Công ty từ tháng 09/2012 đến 6/2015 thì nghỉ việc. Trong khoảng thời gian trên, Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tương ứng với thời gian làm việc. Do người lao động đã nghỉ việc quá thời hạn lưu trữ hồ sơ của Công ty nên công ty không cung cấp được Hợp đồng lao động, hồ sơ cá nhân có liên quan cho Tòa án được. Việc bà C cho bà L mượn chứng minh nhân dân để làm việc tại Công ty là không đúng nhân thân, không đúng quy định pháp luật. Tại thời điểm ký hợp đồng lao động với bà Phan Thị Ngọc C, Công ty không biết người thực tế lao động là bà Phan Thị Hoa L. Đối với yêu cầu của bà C thì công ty không có ý kiến và đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên họp:

Bà H, bà L và bà T có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh

phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: từ khi thụ lý việc dân sự tới thời điểm mở phiên họp,

Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên họp tuân thủ đúng pháp luật.

Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Ngọc C, hậu quả của hợp đồng vô hiệu, do không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị Ngọc C có đơn yêu cầu tuyên bố

hợp đồng lao động được giao kết bà Phan Thị Ngọc C (nhưng do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) với Công ty TNHH H1 vô hiệu nên xác định là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Nơi giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại địa chỉ Công ty là số B đường số C, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35 và điểm v khoản 2 Điều

39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Nghị quyết số 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì việc lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Bà Cao Thúy H, bà Phan Thị Hoa L và bà Đinh Thụy

Ngọc Huyền T cùng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự trên.

Về pháp luật áp dụng: Bà Phan Thị Ngọc C (do bà Phan Thị Hoa L thực hiện)

với Công ty TNHH H1 ký kết hợp đồng lao động từ tháng 09/2012 nên áp dụng Bộ luật Lao động năm 1994 để giải quyết việc lao động.

Về yêu cầu của đương sự:

Xét yêu cầu của bà Phan Thị Ngọc C tuyên bố Hợp đồng lao động được

giao kết giữa bà Phan Thị Ngọc C (do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) và Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015 là vô hiệu:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, lời khai của các đương sự và tại Công văn số

477/BHXH-TST ngày 01/12/2025 của Bảo hiểm xã hội cơ sở A, Thành phố Hồ Chí Minh thì:

“Thông tin liên quan đến sổ BHXH số 7912254477 đứng tên bà Phan Thị

Ngọc C, sinh ngày 22/10/1992, số CMND xxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH từ tháng 9/2012 đến tháng 6/2025 tại Công ty TNHH H1 và đã hưởng trợ cấp một lần.”

Bà Phan Thị Ngọc C, bà Phan Thị Hoa L và đại diện Công ty đều xác nhận

hợp đồng lao động được giao kết giữa bà C với Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 6/2015 là do bà Phan Thị Hoa L thực hiện nên có cơ sở xác định bà Phan Thị Ngọc C (do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) có giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015, mặc dù các đương sự không cung cấp được hợp đồng lao động.

Theo quy định tại Điều 6 và khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Lao động năm

1994 thì người lao động phải trực tiếp ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, bà Phan Thị Ngọc C không trực tiếp ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH H1 mà người ký kết là bà L, do ông bà L mượn chứng minh nhân dân có thông tin cá nhân của bà C để giao kết hợp đồng và làm việc tại Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015 nên nội dung của hợp đồng lao động không có tính xác thực, không tuân theo quy định của pháp luật, vi phạm nguyên tắc trung thực và không đúng chủ thể trong giao kết hợp đồng. Do đó, hợp đồng lao động không có hiệu lực kể từ ngày giao kết theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Lao động năm 1994, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Ngọc C về việc tuyên bố hợp đồng lao động được giao kết giữa bà Phan Thị Ngọc C (do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) với Công ty TNHH H1 từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015 là vô hiệu.

Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu: các đương sự không yêu

cầu nên không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố

Hồ Chí Minh có cơ sở nên chấp nhận.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Phan Thị Ngọc C chịu lệ phí

sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 401 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Nghị quyết số 81/2025/UBNTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Căn cứ Điều 6, khoản 1 Điều 30, Điều 33 của Bộ luật Lao động năm 1994;

- Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Ngọc C về việc tuyên bố hợp

đồng lao động được giao kết giữa bà Phan Thị Ngọc C, sinh ngày 22/10/1992, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx (nhưng do bà Phan Thị Hoa L thực hiện) với Công ty TNHH H1 (có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 09/2012 đến tháng 06/2015, mã số bảo hiểm xã hội là 7912254477) vô hiệu.

2. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền

để thực hiện thủ tục về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Ngọc C phải chịu lệ

phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0025494 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết

việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân

sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự

thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ