vanban.org

Quyết định 09/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lò Văn P có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Số: 09/2025/QĐ-TA
Điện Biên, ngày 28 tháng 10 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Trà

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 23 tháng 10 năm 2025, đối với:

Họ và tên: LÒ VĂN P, sinh năm: 1995. Giới tính: Nam

CCCD số: 011095004734; Cấp ngày: 08/05/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an;

Nơi cư trú: Bản P1, xã N, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Nông nghiệp;

Tiền án: 01(tiền án): Ngày 21/11/2023 bị TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên (nay là TAND khu vực 1-Điện Biên) xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 09/2023/HSST.

Tiền sự: Không;

Con ông: Lò Văn P2 (Đã chết) và bà: Quàng Thị T

(Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã N, tỉnh Điện Biên: Ông Bùi Đức Đoàn - Phó trưởng Công an xã N.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Điện Biên: Ông Vũ Trí Giáp

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 30/9/2025 của Trạm y tế xã xã N đã xác định: Lò Văn P nghiện ma tuý (Heroine).

Tại Bản tường trình ngày 07/10/2025, Lò Văn P thừa nhận mình hiện đang sử dụng ma túy. Ngày 30/9/2025, Công an xã N đã mời Lò Văn P đến làm việc, tại buổi làm việc, Công an xã đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Lò Văn P và yêu cầu Lò Văn P lên Công an xã N hoặc UBND xã N để đăng ký các hình thức cai nghiện hoặc điều trị các chất thay thế từ ngày 30/9/2025 đến ngày 06/10/2025.

Ngày 07/10/2025, Lò Văn P bị lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lò Văn P với lý do: Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý 2021 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Ngày 10/10/2025, Công an xã N, tỉnh Điện Biên ban hành thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.

Ngày 18/10/2025, Công an xã N, tỉnh Điện Biên có Văn bản số 215/ĐN-CNBB về việc đề nghị, xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.

Ý kiến của Đại diện Công an xã N tại phiên họp: Lò Văn P là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Hành vi của Lò Văn P đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33. Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của chính phủ quy định và một số điều Luật phòng chống ma túy. Do đó đề nghị Toà án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P từ 20 đến 24 tháng. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, địa chỉ: C1, xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên.

Ý kiến của Lò Văn P: Tôi nghiện ma túy từ năm 2020, trong thời gian nghiện ma túy, tôi cũng thường xuyên sử dụng ma túy. Tôi đã được Công an xã N thông báo lên Công an xã N hoặc UBND xã N để đăng ký các hình thức cai nghiện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế nhưng tôi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế, hiện tại cai nghiện tự nguyện sẽ không cắt được cơn nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, không làm chủ được hành vi bản thân, vì vậy tôi nhất trí đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Công an xã N.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên tại phiên họp: Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ và quá trình giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P nêu trên là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị bằng thuốc thay thế của Lò Văn P đã vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116 và khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên chấp nhận đề nghị của Công an xã N về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P từ 16 đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P được lập đầy đủ, hợp pháp theo Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021, Điều 1; Điều 7, Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao.

Xét về tính chất, mức độ, tình trạng nghiện ma túy của Lò Văn P thì thấy: Lò Văn P là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020, đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân, hạn chế khả năng lao động, giảm sút về kinh tế gia đình, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương trong lĩnh vực quản lý hành chính nhưng không thể cai nghiện tại gia đình và cộng đồng, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị bằng các chất thay thế. Hành vi của Lò Văn P đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma tuý và a khoản 1 Điều 33. Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng chống ma tuý. Do đó cần chấp nhận đề nghị của Công an xã N. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính thì thấy: Lò Văn P là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Vào năm 2020, Lò Văn P còn bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy đã chấp hành xong toàn bộ bản án nhưng chưa được xóa án tích. Lò Văn P không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên có nhân thân xấu. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ đề nghị cũng như tại phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Lò Văn P tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính cho Lò Văn P được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Lò Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.

Căn cứ vào: Điều 27, khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều Luật phòng chống ma túy; Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 1; Điều 7, Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp bộ máy nhà nước; Các Điều 20, 21, 23, 24, 30, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lò Văn P có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Công an xã N, tỉnh Điện Biên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã N có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ