- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Lê Thị Kim L - Công ty V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Lê Thị Kim L.
- Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 49 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 50 Bộ luật lao động và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 09/2024/QĐST-LĐ | Trảng Bàng, ngày 24 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Đỗ Huy Phong.
- Thư ký phiên họp: ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 11/2023/TLST-VLĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyến bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2024/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Lê Thị Kim L, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty V; địa chỉ: Đường số S, Khu Công Nghiệp B, phường A, thị xã B, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông I - Chức vụ: Chủ tịch công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: ông K - Chức vụ: Giám đốc; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
2. Chị Phan Thị Hoài T, sinh năm 1995; địa chỉ: khu phố L, phường H, thị xã B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội tỉnh N; địa chỉ: Số V3, đường N, Khu phố Z, Phường X, thành phố G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông H - Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh N.
Người đại diện theo ủy quyền: bà T - Chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã B; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Lê Thị Kim L trình bày: do quen biết nên chị L cho chị Phan Thị Hoài Th mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty V từ tháng 04-2012 đến tháng 07-2014 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 04-2012 đến tháng 07-2014, mã số 7212002963 mang tên Lê Thị Kim L.
Trong thời gian chị L cho chị T mượn chứng minh nhân dân để đi làm thì chị L cũng đang làm việc tại Công ty H và được công ty đóng bảo hiểm xã hội với mã số 8008021719 mang tên Lê Thị Kim L.
Do bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau nhưng dưới một tên là Lê Thị Kim L và có hai mã số bảo hiểm xã hội nên chị L không lãnh tiền bảo hiểm xã hội được.
Vì vậy chị L nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V và chị Lê Thị Kim L (do chị Phan Thị Hoài T mượn chứng minh nhân dân của chị L để ký hợp đồng lao động) vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị L làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty V trình bày: Công ty V và chị Lê Thị Kim L có ký hợp đồng lao động thời hạn 02 năm (từ năm 2012 đến năm 2014). Trong quá trình chị L làm việc tại Công ty thì Công ty đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ cho chị L theo đúng quy định của pháp luật với mã số 7212002963 mang tên Lê Thị Kim L.
Về việc chị L cho rằng chị L không ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty mà cho chị T mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty thì Công ty không biết vì hồ sơ nộp cho Công ty có đầy đủ dấu xác nhận của địa phương.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Hoài T trình bày: chị T thừa nhận có mượn chứng minh nhân dân của chị L để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty V từ tháng 04-2012 đến tháng 07-2014 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 04-2012 đến tháng 07-2014, mã số 7212002963 mang tên Lê Thị Kim L.
Hiện chị Lâ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V và chị Lê Thị Kim L (do chị T mượn chứng minh nhân dân của chị L để ký hợp đồng lao động) vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị L làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội thì chị T đồng ý.
Theo người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh N trình bày: kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Lê Thị Kim L và Công ty V vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét đơn yêu cầu đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 117, 127 Bộ luật dân sự 2015; Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng giải quyết việc lao động xem xét quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Lê Thị Kim L về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Lê Thị Kim L và Công ty V là vô hiệu.
Chị Lê Thị Kim L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty V; địa chỉ: Đường số S, Khu Công Nghiệp B, phường A, thị xã B, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên họp theo quy định pháp luật, nhưng người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp.
Đối với yêu cầu của chị Lê Thị Kim L:
Xét thấy việc chị T sử dụng thông tin cá nhân của chị L để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty V là có thật. Hành vi của chị T là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động.
Bảo hiểm xã hội thị xã B cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị L tại Công ty V từ tháng 4-2012 đến tháng 7-2014, mã số 7212002963, mang tên Lê Thị Kim L phù hợp với thông tin do chị L cung cấp.
Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị L về việc tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty V với chị Lê Thị Kim L (do chị Phan Thị Hoài T mượn chứng minh nhân dân của chị L để ký hợp đồng lao động) vô hiệu.
Về lệ phí: chị Lê Thị Kim L phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 49, 50 của Bộ luật lao động; Điều 33, 39, 149, 367, 372, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Lê Thị Kim L.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Lê Thị Kim L (do chị Phan Thị Hoài T ký) với Công ty V là vô hiệu.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Lê Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0027718 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Chị Lê Thị Kim L, chị Phan Thị Hoài T, Công ty V và Bảo hiểm xã hội tỉnh N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS Tx Trảng Bàng; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Huy Phong |