- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T với Công ty TNHH M, thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017 bị vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Lê Phát T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 07/2024/QĐST-LĐ | TU, ngày 18 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Thành Hiệp.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TU, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố TU mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 05/2024/TLST-VLĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 05/2024/QĐST-LĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Ông Lê Phát T, sinh năm 1996; thường trú: Ấp P2, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: Ấp Bình Tiền 2, xã GHạ, huyện Đ Hòa, tỉnh Long An; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH một thành viên M; địa chỉ: Thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, khu phố A, phường Q, thành phố TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 2003; thường trú: khu phố A, phường Q, thành phố TU, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội thành phố TU, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường ĐT 746, tổ 1, khu phố 2, phường U, thành phố TU, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn An K, chức vụ: Chuyên viên (Theo giấy ủy quyền số 01/UQ-BHXH ngày 18/6/2024); có mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết ông Lê Phát T trình bày: Từ khoảng tháng 08/2017 đến tháng 11/2017 ông Lê Phát T làm việc tại Công ty cổ phần xây dựng Kiến trúc A Long An; địa chỉ: Tổ 1, ấp B, xã T1, thị xã S, tỉnh Tây Ninh và tham gia đóng Bảo hiểm xã hội từ 08/2017 đến tháng 11/2017 với Mã số bảo hiểm xã hội số 7415112914. Nay ông Lê Phát T liên hệ Bảo hiểm xã hội huyện G để nộp hồ sơ xin hưởng trợ cấp thất nghiệp. Qua thẩm tra, Bảo hiểm xã hội huyện Gđã phát hiện trường hợp có 01 người mang tên Lê Phát T, sinh năm 1996 làm việc và giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH M, trụ sở tại: Thửa đất số 1054, tờ bản đồ số 11, khu phố A, phường Q, thành phố TU, tỉnh Bình Dương và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017 với mã số BHXH 7415112914.
Qua tìm hiểu ông T được biết người lao động khác là ông Phan Văn Đ, sinh năm 2003 đã sử dụng giấy tờ tùy thân của ông T để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH M và tham gia bảo hiểm xã hội.
Vì vậy, ông Lê Phát T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T (do ông Phan Văn Đ ký kết) với Công ty TNHH M (Thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017) bị vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Ngày 04/6/2024, ông Lê Phát T xác định lại yêu cầu là yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T (do ông Phan Văn Đ ký kết) với Công ty TNHH M (Thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017) bị vô hiệu và không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Đ trình bày: Năm 2017, ông Đ chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên đã lấy chứng minh nhân dân của ông Lê Phát T để xin vào làm việc tại Công ty TNHH M và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017 thì nghỉ việc. Nay, ông Phan Văn Đ thống nhất toàn bộ yêu cầu của ông Lê Phát T và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T với Công ty TNHH M (Thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017) bị vô hiệu. Ông Phan Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến ông trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố TU, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của ông Lê Phát T, sinh năm 1996, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH M tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7415112914 từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017, tháng 12/2017 báo giảm nghỉ ốm. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Tra cứu thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp: Mã số 7415112914, tên Lê Phát T chưa hưởng BHXH 1 lần theo Quyết định số 041111256 ngày 23/06/2011, chưa hưởng trợ cấp BHTN, đã hưởng ốm đau số tiền 3.134.766 đồng, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T và Công ty TNHH M (Thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017) bị vô hiệu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố TU, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH M được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 08/2017 đến tháng 11/2017, người lao động tên Lê Phát T, sinh năm 1996, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH M tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7415112914 từ 08/2017 đến tháng 12/2017, tháng 12/2017 báo giảm nghỉ ốm. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH M và ông Lê Phát T phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 08/2017. Tuy nhiên, ông Lê Phát T và ông Phan Văn Đ thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH M và thực tế làm việc tại công ty là ông Phan Văn Đ mà không phải ông Lê Phát T. Do ông Phan Văn Đ chưa đủ tuổi làm chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động nên ông Lê Phát T đã cho ông Phan Văn Đ mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của ông Lê Phát T và ông Phan Văn Đ phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017 ông Lê Phát T có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH M và Công ty cổ phần xây dựng kiến trúc AA Long An.
Xét thấy, việc ông Phan Văn Đ sử dụng chứng minh nhân dân của ông Lê Phát T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố TU đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của ông Lê Phát T bị trùng từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017. Do đó, ông Lê Phát T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty TNHH M với ông Lê Phát T từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Ông Lê Phát T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Lê Phát T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Lê Phát T, sinh năm 1996; thường trú: Ấp P2, xã K, huyện C, tỉnh An Giang với Công ty TNHH M, thời gian làm việc từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Lê Phát T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001291 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố TU, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố TU; - Chi cục THADS thành phố TU; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Võ Thành Hiệp |