vanban.org

Quyết định 07/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/01/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N.

[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N, giao cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 14/01/2019 cho đến khi con chung thành niên. Chị Th tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th và Nguyễn Thế N Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2022/QĐST- HNGĐ
Ngày: 25/ 01/2022
“V/v Yêu cầu công nhận thuận tình
ly hôn và thỏa thuận nuôi con”

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Thư ký phiên họp:

Bà Đặng Ngọc Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 304/2021/TLST- HNGĐ ngày 27/12/2021, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu:

1. Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1994

HKTT: Số 15B/2 BM, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.

Hiện ở: số 3/15/27 Bà Triệu, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Nguyễn Thế N, sinh năm 1990

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số 15B/2 BM, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.

Địa chỉ hiện nay: 2344 Westerly ST Abbotsford V2T 2M4, Canada.

- Người đại diện theo ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của anh N: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1994; HKTT: Số 15B/2 BM, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương; Hiện ở: số 3/15/27 Bà Triệu, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Lương V, sinh năm 1957;

Địa chỉ: số 3/15/27 Bà Triệu, phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.

Chị Th, anh N và ông V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th, anh Nguyễn Thế N, biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Lương V và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Th, anh N được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương vào ngày 21/11/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chủ yếu về vấn đề kinh tế và nuôi dạy con cái, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Tháng 01/2021, anh N sang Canada làm ăn, kể từ khi đi đến nay vẫn chưa về nước, nhưng mỗi khi liên lạc với nhau vợ chồng cũng đều chỉ cãi vã. Tình cảm vợ chồng xa cách, mâu thuẫn kéo dài mà không có biện pháp gì khắc phục, hai vợ chồng sống ly thân kể từ đó đến nay, không còn liên lạc gì với nhau nữa, nếu anh N có gọi về cho chị Th cũng chỉ là để gặp con và nói chuyện với con. Nay cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã thống nhất làm đơn ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 14/01/2019, hiện đang ở cùng chị Th và ông bà ngoại. Chị Th, anh N thỏa thuận để chị Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên; chị Th tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc, chị Nguyễn Thị Th không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án, chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Hiện tại anh Nguyễn Thế N đang ở Canada. Các tài liệu gồm: Đơn xin ly hôn; Bản tự khai; Giấy ủy quyền; Đơn xin giám định; Bản cung cấp chữ ký mẫu; Đơn xin giải quyết vắng mặt của anh N đều đã được Tòa án trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương thực hiện việc giám định chữ ký và chữ viết của anh Nguyễn Thế N tại các tài liệu trên. Tại Kết luận giám định số 01/KLGĐ ngày 11/01/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương đã kết luận: chữ ký đứng tên “Nguyễn Thế N” tại các mục “Người làm đơn”, “Người biết bản tự khai”, “Người ủy quyền” trên các tài liệu cần giám định với chữ ký của anh Nguyễn Thế N trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Do điều kiện anh Nguyễn Thế N không về Việt Nam để giải quyết ly hôn nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Th thay mặt anh giao nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai, chị Th có quan điểm đồng ý nhận ủy quyền của anh N. Sau khi nhận thông báo thụ lý việc hôn nhân gia đình, chị đã thông báo cho anh N biết. Quan điểm của anh N vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị Th; Về con chung: anh nhất trí giao con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 14/01/2019 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên và anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con; Tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp chị Th, anh N đều có đơn xin vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N; Về con chung: Chấp nhận sự thỏa thuận của chị Th và anh N giao cháu Nguyễn Yến Nh cho chị Th nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về lệ phí: Chị Th tự nguyện chịu 300.000đ lệ phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Nguyễn Thế N đang sinh sống và làm việc tại Canada. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con của chị Th và anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh N không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã gửi các tài liệu, gồm: Đơn xin ly hôn; bản tự khai; Giấy ủy quyền; đơn xin giám định; bản cung cấp chữ ký mẫu; đơn xin giải quyết vắng mặt của anh N đã được Tòa án trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 01/KLGĐ ngày 11/01/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương đã kết luận: chữ ký đứng tên “Nguyễn Thế N” tại các mục “Người làm đơn”, “Người biết bản tự khai”, “Người ủy quyền” trên các tài liệu cần giám định với chữ ký của anh Nguyễn Thế N trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp.

Quá trình giải quyết chị Th và anh N vắng mặt tại phiên họp nhưng đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt chị Th, anh N.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường PNL, thành phố HD, tỉnh Hải Dương vào ngày 21/11/2017, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay xảy ra xung đột, mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, cả hai đều xác định tình cảm không còn và đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Th, anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh chị theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị Th và anh N có một con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 14/01/2019, hiện đang ở cùng chị Th và ông bà ngoại. Chị Th, anh N thống nhất giao cho chị Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con thành niên. Chị Th tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng cho con. Xét thấy: Sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th, anh N xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Tòa án không xem xét.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Th tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N.

[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Thế N, giao cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Yến Nh, sinh ngày 14/01/2019 cho đến khi con chung thành niên. Chị Th tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị Th.

Anh Nguyễn Thế N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3.]. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Th tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng do chị Nguyễn Thị Th đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0004657 ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Th đã nộp đủ lệ phí.

[4]. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ