vanban.org

Quyết định 06/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/06/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị L.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1989; thường trú: Ấp 2, xã P1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp với Công ty TNHH may mặc HUNG KIU, thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 bị vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Tuyên bố HĐLĐ vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TU
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2024/QĐST-LĐTU, ngày 18 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Thành Hiệp.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TU, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố TU mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 04/2024/TLST-VLĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 06/2024/QĐST-LĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1989; thường trú: Ấp 2, xã P1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên hệ: Số 09/15, khu phố PB, phường B, thành phố A, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH may mặc K(Việt Nam); địa chỉ: nhà xưởng số 10 và 11, đường N7, cụm Công nghiệp Q, phường Q, thành phố TU, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Thông H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ 9, khu phố T1, phường Q, thành phố TU, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 10/6/2024); có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1991; thường trú: Ấp Mỹ An 1, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố X, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: Số 09/15, khu phố PB, phường B, thành phố A, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thành phố TU,tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Đường ĐT 746,tổ 1, khu phố 2,phường U,thành phố TU,tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Thanh N, chức vụ: Giám đốc; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết bà Huỳnh Thị L trình bày: Từ khoảng tháng 07/2009 đến tháng 4/2023 bà Huỳnh Thị L làm việc tại Công ty cổ phần W Việt Nam; trụ sở chính: Khu phố 1B, phường P, thành phố A, tỉnh Bình Dương và tham gia đóng Bảo hiểm xã hội từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 4 năm 2023 với mã số bảo hiểm xã hội số 7409225484. Khi cấp Sổ bảo hiểm xã hội cho bà L, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã căn cứ theo giấy tờ nhân thân của bà L là Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 13/02/2008 nay đổi sang Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 09/03/2022. Ngày 14/04/2023, bà L được Công ty Cổ phần Greatree Industrial cho nghỉ việc theo Quyết định số 153/2023/QDTV-GI. Nay bà Huỳnh Thị L tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Bảo hiểm xã hội thành phố A rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà bị trùng. Qua thẩm tra, Bảo hiểm xã hội thành phố A đã phát hiện trường hợp có 01 người mang tên Huỳnh Thị L, sinh năm 1989 làm việc và giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH may mặc HUNG KIU, trụ sở tại: số 10 và 11, đường N7 Cụm Công NgH1 Phú Chánh, phường Phú Chánh, thành phố TU, tỉnh Bình Dương và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 04 năm 2010 và Đ cấp Mã số bảo hiểm xã hội số 7408331236.

Qua tìm hiểu, bà L được biết người lao động khác là bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1991 đã sử dụng Chứng minh nhân dân của bà L (số 341502575 do Công an tỉnh Đồng Tháp cấp mang tên Huỳnh Thị L) để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH may mặc Kvà tham gia bảo hiểm xã hội.

Vì vậy, bà Huỳnh Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L (Do bà Huỳnh Thị Đ ký kết) với Công ty TNHH may mặc K(Thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010) bị vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Ngày 10/6/2024, bà Huỳnh Thị L xác định lại yêu cầu là yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L (do bà Huỳnh Thị Đ ký kết) với Công ty TNHH may mặc K (Thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010) bị vô hiệu và không yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Đ trình bày: Năm 2008, bà Đ chưa đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên đã lấy chứng minh nhân dân của bà Huỳnh Thị L để xin vào làm việc tại Công ty TNHH may mặc Kvà tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 thì nghỉ việc. Nay, bà Huỳnh Thị Đ thống nhất toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Thị L và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L với Công ty TNHH may mặc K (Thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010) bị vô hiệu. Bà Huỳnh Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết bất kỳ quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan đến bà trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố TU, tỉnh Bình Dương trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx Đ Công ty TNHH may mặc K tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất ngH1 (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề ngH1 (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7408331236 từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Tra cứu thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp: Mã số 7408331236, tên Huỳnh Thị L đã hưởng BHXH 1 lần theo Quyết định số 041111256 ngày 23/06/2011, đã hưởng trợ cấp BHTN theo Quyết định số 12661 ngày 16/06/2010, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ông Vũ Thông H1 là đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH may mặc K trình bày: Việc bà Huỳnh Thị Đ mượn hồ sơ của bà Huỳnh Thị L để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty thì thời điểm tuyển dụng Công ty không phát hiện được việc người lao động sử dụng hồ sơ giả vì khi tuyển dụng công ty đều yêu cầu người lao động phải cung cấp hồ sơ giấy tờ tùy thân bản gốc để đối chiếu. Theo hồ sơ lưu trữ thì Công ty có tuyển dụng và ký hợp đồng lao động với bà Huỳnh Thị L từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 thì nghỉ việc, hiện quan hệ lao động giữa Công ty với bà Huỳnh Thị L đã chấm dứt, công ty đã chốt sổ bảo hiểm cho bà Huỳnh Thị L. Lỗi dẫn đến việc ký kết hợp đồng với bà Huỳnh Thị L (thực tế bà Huỳnh Thị Đ mới là người làm việc tại Công ty) là do bà Huỳnh Thị L cho bà Huỳnh Thị Đ mượn giấy tờ tùy thân. Nay bà Huỳnh Thị L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L và Công ty TNHH may mặc K (Thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010) bị vô hiệu, Công ty hoàn toàn đồng ý.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động, đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L và Công ty TNHH may mặc K(Thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010) bị vô hiệu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ Đ thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố TU, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự nói trên theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Quá trình tố tụng các đương sự khai thống nhất: Trong thời gian từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010, người lao động tên Huỳnh Thị L, sinh năm 1989, số CMND xxxxxxxxx Đ Công ty TNHH may mặc Ktham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề ngH1 (BHTNLĐ-BNN), với mã số BHXH 7408331236. Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH may mặc K và bà Huỳnh Thị L phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 12/2008. Tuy nhiên, bà Huỳnh Thị L và bà Huỳnh Thị Đ thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH may mặc K và thực tế làm việc tại công ty là bà Huỳnh Thị Đ chứ không phải bà Huỳnh Thị L. Do bà Huỳnh Thị Đ chưa đủ tuổi làm chứng minh nhân dân và ký hợp đồng lao động nên bà Huỳnh Thị L đã cho bà Huỳnh Thị Đ mượn chứng minh nhân dân để đi làm việc. Trình bày của bà Huỳnh Thị L và bà Huỳnh Thị Đ phù hợp với hồ sơ bảo hiểm xã hội, cụ thể trong thời gian từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 bà Huỳnh Thị L có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH may mặc K và Công ty cổ phần W Việt Nam.

Xét thấy, việc bà Huỳnh Thị Đ sử dụng chứng minh nhân dân của bà Huỳnh Thị L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH may mặc Klà hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố TU đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Huỳnh Thị L bị trùng từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010. Do đó, bà Huỳnh Thị L yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động Đ ký kết giữa Công ty TNHH may mặc K với bà Huỳnh Thị L từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị L phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị L.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1989; thường trú: Ấp 2, xã P1, huyện H, tỉnh Đồng Tháp với Công ty TNHH may mặc HUNG KIU, thời gian làm việc từ tháng 12/2008 đến tháng 04/2010 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng),được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0001289 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố TU, tỉnh Bình Dương.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp bản án Đ thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ