- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh Danh M.
- Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 49 Bộ luật lao động và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:06/2024/QĐST-LĐ Ngày: 19-4-2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Hà Như Thủy.
- Thư ký phiên họp: ông Phạm Văn Hảnh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên họp: bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 28/2023/TLST-VLĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp số 06/2024/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Anh Danh M, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu- vắng mặt có đơn xin.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH V. Địa chỉ: Lô A, Khu chế xuất V, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Đại diện theo pháp luật ông Wang Yi Y- Phó tổng giám đốc-vắng mặt có đơn xin.
- Anh Danh T, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu-vắng mặt có đơn xin.
- Bảo hiểm xã hội thị xã T; địa chỉ: Số C đường L, khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh- vắng mặt có đơn xin.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết, anh Danh M trình bày thể hiện trong hồ sơ: Năm 2011 anh có cho anh D T mượn giấy chứng minh nhân dân của để xin đi làm công nhân tại Công ty TNHH V. Sau thời gian thử việc, anh T đã ký hợp đồng lao động chính thức với công ty và được công ty tham gia BHXH từ tháng 05-2012 đến 6-2014. Trong thời gian đó, anh đi làm công nhân tại công ty TNHH S- Thành phố Hồ Chí Minh, có ký hợp đồng lao động và tham gia BHXH đến tháng 02-2015 anh nghĩ việc.
Nay anh muốn làm thủ tục lãnh tiền BHXH nhưng không được. Qua kiểm tra bị trùng lập về thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 05-2012 đến tháng 6-2014 với họ tên Danh M ở 2 công ty khác nhau trên 02 địa bàn khác nhau. Nay anh yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động của anh Danh T dưới tên Danh M tại Công ty TNHH V là vô hiệu.
Trong quá trình giải quyết – Công ty TNHH V trình bày thể hiện trong hồ sơ: Công ty tuyển dụng anh Danh T vào làm việc tại công ty, có ký hợp đồng lao động và tham gia BHXH với anh Danh T dưới tên Danh M từ tháng 3-2012 đến tháng 7-2014. Hiện do đã lâu hồ sơ lao động của anh Danh T đã bị thất lạc. Công ty không biết việc anh Danh T mượn giấy chứng minh nhân dân của anh Danh M để ký kết hợp đồng lao động với Công ty. Công ty đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật
Trong quá trình giải quyết- anh Danh T trình bày trình bày thể hiện trong hồ sơ: Vào năm 2012 anh có mượn giấy chứng minh nhân dân của anh Danh M để xin đi làm công nhân tại Công ty TNHH V ở Khu chế xuất L- T, anh có ký hợp đồng lao động, công ty có đóng BHXH cho anh từ năm 2012 đến năm 2014.
Nay anh đồng ý với yêu cầu của anh Danh M về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh dưới tên anh Danh M với Công ty TNHH V vô hiệu.
Trong quá trình giải quyết- đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Hồng T1 trình bày thể hiện trong hồ sơ: Kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Danh M và Công ty TNHH V vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng phiên họp từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét đơn yêu cầu đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 117, 127 Bộ luật dân sự 2015; Các Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng giải quyết việc lao động xem xét quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Danh M và công ty TNHH V là vô hiệu.
2. Anh Danh M phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại công ty TNHH V có trụ sở tại Lô A, khu chết xuất và công nghiệp L, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu của anh D Mến đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa công ty TNHH V và anh Danh M (do anh Danh T sử dụng chứng minh nhân dân của anh Danh M để ký hợp đồng) là vô hiệu: Xét thấy việc anh Danh T sử dụng thông tin cá nhân của anh Danh M để giao kết hợp đồng lao động với công ty TNHH V là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động nên vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động, thuộc trường hợp hợp đồng lao động vi phạm về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh Danh M bị trùng từ tháng 5-2012 đến tháng 6-2014, phù hợp với thông tin anh M, anh T cung cấp. Do đó, anh Danh M yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa công ty TNHH V với anh Danh M (do anh T sử dụng thông tin của anh M để ký) là có cơ sở chấp nhận.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Về lệ phí: anh Danh M phải chịu theo quy định.
Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động; Điều 149, 367, 401, 402, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của anh Danh M.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa anh Danh M, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (do anh Danh T ký kết) với công ty TNHH V là vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: anh Danh M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, cho khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số: 0015156 ngày 15-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh M đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dânsự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hànhán hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thihành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - THA thị xã Trảng Bàng; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp (đã ký) Hà Như Thủy |