vanban.org

Quyết định 05/QĐ-TA

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 06/02/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Nguyễn Hữu P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 tháng (Mười tám tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại trong thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Nguyễn Hữu P.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 05/QĐ-TA
CP, ngày 06 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Thái Dương Thùy Dung.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Trung.

Ngày 06 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An

Giang, Tòa án nhân dân huyện CP tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết

định mở phiên họp số: 04/QĐ-TA ngày 30 tháng 01 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Hữu P (tên gọi khác Nhẫn), sinh ngày 17/9/1996. Giới

tính: Nam; Số căn cước công dân: 089096012830; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:

Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nơi cư trú: số nhà 618, ấp Bình Hưng 1, xã M, huyện

CP, tỉnh An Giang; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông:

Nguyễn Hữu A và bà Lê Thị B (đã chết).

Tiền án: Có 01 tiền án vào Ngày 25/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện CP,

tỉnh An Giang xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,

chấp hành án xong ngày 20/01/2023.

Tiền sự: Không.

Anh P có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Võ Quang Huy. Chức vụ: Phó Trưởng

phòng - Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang (Theo

giấy ủy quyền ngày 06/02/2024).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP: Ông Huỳnh Hoàng Vũ -

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào ngày 16/12/2023, do nghi ngờ Nguyễn Hữu P có hành vi sử dụng trái

phép chất ma túy nên Công an xã M, huyện CP, tỉnh An Giang đã mời P về trụ sở

làm việc. Tại đây, P đã thừa nhận mình có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy,

thời điểm bắt đầu sử dụng khoảng 03 tháng nay, lần cuối cùng sử dụng là vào ngày 15/12/2023, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút, tần suất từ 01 đến 02 ngày sử dụng một lần.

Cùng ngày 16/12/2023, Công an xã M đã đưa P đi xét nghiệm tìm chất ma

túy và xác định tình trạng nghiện của P. Kết quả xét nghiệm của Trạm y tế xã M và Trung tâm y tế huyện CP xác định Nguyễn Hữu P dương tính với ma tuý trong cơ thể, nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Do đó, Công an xã M đã lập hồ sơ, thông báo, giải thích và cho P cam kết đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 16/12/2023 đến ngày 21/12/2023.

Tuy nhiên, đến ngày 17/01/2024, do P không thực hiện đăng ký cai nghiện

ma túy tự nguyện theo cam kết nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M đã lập biên bản vi phạm về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là Nghị định 116/NĐ-CP của Chính phủ) và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với P.

Ngày 17/01/2024, ông Nguyễn Hữu A là cha ruột của Nguyễn Hữu P xác

nhận đồng ý quản lý P trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã M ban hành quyết định số 02/QĐ-QLNN

ngày 17/01/2024 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu P và giao P cho ông Nguyễn Hữu A (đại diện gia đình) quản lý kể từ ngày 17/01/2024 cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 23/01/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M ban hành văn bản số

02/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện CP xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu P.

Ngày 25/01/2024, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện CP ban

hành văn bản số 27/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu P.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP: Giữ nguyên

đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện

pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị và người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

+ Về đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP về việc đưa Nguyễn Hữu P vào

cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở nên đề nghị Toà án chấp nhận. Về thời hạn áp

dụng, đề nghị áp dụng từ 16 tháng đến 18 tháng.

- Người bị đề nghị Nguyễn Hữu P trình bày: Thừa nhận có hành vi sử dụng

trái phép chất ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là ma túy đá

(Methamphetamine), hình thức sử dụng là hút. Sau khi chấp hành án xong được

một thời gian, cách nay khoảng 03 – 04 tháng thì bị nghiện lại, lần sử dụng gần

nhất vào ngày 15/12/2023. Đã cam kết đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong

thời hạn 05 ngày tại Công an xã nhưng hết thời hạn không đăng ký theo cam kết

nên đã bị lập biên bản vi phạm và đang bị người thân quản lý tại nhà đến nay.

Nhân thân có 01 tiền án, không có tiền sự. Nay, đồng ý với đề nghị đưa vào cơ sở

cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện CP, xin

Tòa án áp dụng thời hạn 18 tháng để có thời gian cải tạo, điều trị cai nghiện tốt

hơn.

Căn cứ các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ

sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên

họp, của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Về thủ tục tố tụng:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP đối với Nguyễn Hữu P đã thực hiện đúng, đầy đủ, đảm bảo tính pháp lý theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;

Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Pháp lệnh số 03/ 2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh số 03/2022).

Về nội dung vụ việc:

Nguyễn Hữu P đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2013 và tái nghiện lại cách nay khoảng 03 - 04 tháng, lần cuối cùng sử dụng vào ngày 15/12/2023, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút, tần suất sử dụng là 01 đến 02 ngày một lần. Ngày 16/12/2023 Công an xã M đã đưa P đi xét nghiệm tìm chất ma túy và xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm P dương tính với chất ma túy trong cơ thể, loại ma túy sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine).

Trong quá trình làm việc, Công an xã M đã thông báo, giải thích và cho P

cam kết đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ngày 16/12/2023 đến ngày 21/12/2023.

Tuy nhiên, khi hết thời hạn cam kết, P không đăng ký cai nghiện ma túy tự

nguyện nên đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với P và giao P cho người thân quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị.

Quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, P thừa nhận về hành vi sử dụng trái

phép chất ma túy như đã nêu trên nên có đủ căn cứ xác định Nguyễn Hữu P là người nghiện ma túy theo điểm đ khoản 1 Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 .

Xét thấy, P là người đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành

chính, có khả năng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng P vẫn cố ý sử dụng. Năm 2017, P bị Tòa án nhân dân huyện CP xử phát 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/01/2023. Sau khi chấp hành án xong, trờ về địa P sinh sống, thay vì phải chăm lo lao động chân chính, sống có ích cho xã hội nhưng P lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, dẫn đến bị nghiện. Khi bị Công an xã M mời làm việc, P đã không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện theo cam kết. Do đó, cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và điểm a khoản 1 Điều 33 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Để tạo điều kiện cho P có thời gian điều trị, chữa bệnh, cai nghiện ma túy, học

tập, lao động để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với P là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính và phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP.

Về thời gian áp dụng, trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, P đã tự

nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên có xem xét giảm nhẹ một phần thời hạn áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với P so với quy định là phù hợp với khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 6, khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều

105, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống

ma túy năm 2021;

Áp dụng Điều 3, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh

số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Nguyễn Hữu P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 tháng (Mười tám tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại trong thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện CP có quyền kháng nghị trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang phối hợp với Công an huyện CP, tỉnh An Giang thi hành quyết định./.

Cỡ chữ