vanban.org

Quyết định 05/2025/QĐST-VLĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th.

Tuyên bố hợp đồng lao động số 12310433/2/HĐ 3 ngày 30/9/2012 được ký kết giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) với chị Trần Thị Kim Th là vô hiệu Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Số: 05/2025/QĐST-VLĐ
Châu Thành, ngày 08 tháng 4 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần giải quyết việc lao động:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Chinh – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Lương Thị Trà My – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 02/2025/TLST-VLĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp số 02/2025/QĐST-LĐ ngày 27 tháng 03 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng:

- Người yêu cầu: Trần Thị Kim Th, sinh năm: 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp NL, xã TCN, huyện CT, tỉnh TG.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Trần Thị Thu T, sinh năm: 1996 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp NL, xã TCN, huyện CT, tỉnh TG.

2/ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên O A VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) (Vắng mặt)

Địa chỉ: Lô Bi 5-6-7-8 Khu công nghiệp TH, huyện CT, tỉnh TG.

3/ Bảo hiểm xã hội huyện CT, tỉnh TG.

Đại diện: Bà Lương Thị Thừa H – Chức vụ: Phó giám đốc QLĐH (Có đơn xin vắng)

NỘI DUNG:

Theo đơn yêu cầu, bản tự khai người yêu cầu Trần Thị Kim Th trình bày:

Vào năm 2012 chị Trần Thị Kim Th có cho chị Trần Thị Thu T mượn giấy chứng minh nhân dân để xin vào làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV). Do sử dụng giấy tờ mượn để tham gia lao động nên hồ sơ bảo hiểm xã hội của chị Thu T mang tên Trần Thị Kim Th, mã số BF00012652 (mã số bảo hiểm xã hội tạm). Trong thời gian này chị Kim Th cũng đang làm công nhân tại Công ty trách nhiệm hữu hạn QV (TG), chị Th cũng tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 3/2012, số bảo hiểm xã hội 8212013360 mang tên Trần Thị Kim Th. Hiện tại chị Kim Th không nhận được các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định do cùng một người nhưng lại có 02 số bảo hiểm xã hội. Do đó, nay chị Kim Th yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động số 12310433/2/HĐ 3 ngày 30/9/2012 được ký kết giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) với chị Trần Thị Kim Th là vô hiệu.

Tại văn bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thu T trình bày:

Chị T thống nhất theo lời trình bày của chị Trần Thị Kim Th là vào năm 2012 chị T có mượn giấy chứng minh nhân dân của chị Th để tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV). Thời gian chị T tham gia bảo hiểm xã hội là 01 tháng (tháng 10/2012). Hiện chị T đã nghỉ việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV). Nay chị T thống nhất theo toàn bộ yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại văn bản đề ngày 24/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội huyện CT, tỉnh TG trình bày ý kiến:

Qua kiểm tra quá trình và đối chiếu với dữ liệu trong phần mềm Quản lý Thu – Sổ, Thẻ ngành bảo hiểm xã hội quản lý, nhận thấy chị Trần Thị Kim Th, sinh ngày 10/5/1991, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx đã tham gia bảo hiểm xã hội tại:

Mã số 8212013360: Tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty trách nhiệm hữu hạn QV (TG) từ tháng 3/2012 đến tháng 01/2017, Công ty trách nhiệm hữu hạn YMUV từ tháng 05/2017 đến tháng 10/2017, Công ty trách nhiệm hữu hạn giày APACHE Việt Nam từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2023. Tổng thời gian tham gia là 10 năm 00 tháng. Chưa nhận bảo hiểm xã hội 01 lần. Đã hưởng bảo hiểm thất nghiệp: còn bảo lưu 04 năm 06 tháng.

Mã số BF00012652 (mã số bảo hiểm xã hội tạm): Tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2012. Tổng thời gian tham gia là 00 năm 01 tháng. Chưa nhận bảo hiểm xã hội 01 lần.

Thời gian này chị Th có cho chị Trần Thị Thu T, sinh ngày 07/6/1996, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx mượn chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx để vào làm việc và tham gia bảo hiểm xã hội.

Ngày 31/5/2022 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động, trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động. Đồng thời căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ. Tữ những căn cứ trên, Bảo hiểm xã hội huyện Châu Thành đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động số 12310433/2/HĐ 3 ngày 30/9/2012 được ký kết giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) với chị Trần Thị Kim Th là vô hiệu. Chị Trần Thị Kim Th và chị Trần Thị Thu T được quyền liên hệ với cơ quan bản hiểm xã hội để thực hiện lập các thủ tục điều chỉnh lại thông tin về nhân thân trong hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình giải quyết việc lao động và tại phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th, tuyên bố hợp đồng lao động số 12310433/2/HĐ 3 ngày 30/9/2012 được ký kết giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) với chị Trần Thị Kim Th là vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc lao động đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội huyện CT có đơn xin vắng mặt; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết việc dân lao động vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

Về nội dung: Chị Trần Thị Thu T sử dụng thông tin cá nhân của chị Trần Thị Kim Th (mượn chứng minh nhân dân) để giao kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) là hành vi vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động. Do đó yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về lệ phí giải quyết việc lao động: Chị Trần Thị Kim Th phải chịu theo quy định tại Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật lao động;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Kim Th.

Tuyên bố hợp đồng lao động số 12310433/2/HĐ 3 ngày 30/9/2012 được ký kết giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên OA VN (Nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên KV) với chị Trần Thị Kim Th là vô hiệu

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2/ Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Chị Trần Thị Kim Th phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động, được trừ tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai thu số 0012402 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã nộp xong.

3/ Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết công khai.

Cỡ chữ