- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Hán Văn T thuận tình ly hôn Bùi Thị P"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05/2024/QĐST-HNGĐ | Phú Thọ, ngày 22 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Ngọc Tuấn
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 13/2024/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Hán Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu 11, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- Chị Bùi Thị P, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu 11, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Hiện đang sinh sống và làm việc tại: Tầng 2, số 520, Nishigi, Y, S, Nhật Bản.
Chị Bùi Thị P ủy quyền cho anh Hán Văn T nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
(Anh T, chị P đều đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 02/01/2024 và các lời khai tiếp theo, anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị P đăng ký kết hôn ngày 28/10/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại khu 11, xã B. Từ năm 2018 – 2021, anh Hán Văn T lao động tại Nhật Bản. Kể từ tháng 3/2023 cho đến nay, chị Bùi Thị P cũng đi lao động tại Nhật Bản theo hợp đồng xuất khẩu lao động trong 03 năm. Thời gian đầu sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2022, anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do sự khác biệt về quan điểm sống dẫn tới không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng, dù đã được hai bên gia đình và bạn bè hết sức khuyên can, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng anh chị ngày càng xa cách. Hiện nay, nhận thấy hôn nhân của mình đã rơi vào bế tắc, mâu thuẫn đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, níu kéo cũng chỉ đem lại đau khổ và tổn thương cho hai bên. Vì vậy, anh chị thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ công nhận anh chị thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung gồm: Cháu Hán Hồng D, sinh ngày 02/10/2011 và cháu Hán Quang D, sinh ngày 12/11/2013. Hiện các cháu đều đang ở cùng anh Hán Văn T. Anh chị thống nhất thỏa thuận sau khi ly hôn đề nghị Tòa án tuyên giao anh Hán Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu D, D cho đến khi từng cháu thành niên và lao động tự túc được.
- Về cấp dưỡng: Anh chị thống nhất thỏa thuận chị Bùi Thị P không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
- Về tài sản chung và công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung và các nghĩa vụ khác: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí, chi phí tố tụng tại Tòa án: Anh chị thống nhất thỏa thuận anh Hán Văn T chịu toàn bộ lệ phí, chi phí tố tụng tại Tòa án thay cho cả phần nghĩa vụ của chị Bùi Thị P.
Anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P đều có đơn đề nghị không hòa giải và giải quyết vắng mặt anh chị tại Tòa án.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án tiến hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung việc dân sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P.
- Về con chung: Giao các cháu Hán Hồng D, sinh ngày 02/10/2011 và cháu Hán Quang D, sinh ngày 12/11/2013 cho anh Hán Văn T trực tiếp nuôi sau khi ly hôn cho đến khi từng cháu thành niên và lao động tự túc được. Chị Bùi Thị P không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
- Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh T và chị P đều không đề nghị nên không xem xét, giải quyết.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh T chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nhận định:
Về tố tụng: Trong Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P do anh T và chị P nộp trực tiếp tại Tòa án thể hiện chị P đang sinh sống tại Nhật Bản (ngày 02/01/2024, chị P nghỉ phép về nộp đơn cho Tòa án). Căn cứ Công văn số: 1447/QLXNC-P3 ngày 18/01/2024 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an, chị Bùi Thị P xuất cảnh lần gần nhất ngày 07/01/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh T và chị P đều có nơi đăng ký thường trú tại tỉnh Phú Thọ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết việc dân sự là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 29, khoản 3 điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh T và chị P đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và giải quyết vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và mở phiên họp vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 4 Điều 207, khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P đăng ký kết hôn ngày 28/10/2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2022, anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do sự khác biệt về quan điểm sống dẫn tới không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Mặc dù đã được gia đình hai bên và bạn bè khuyên nhủ nhưng hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung lâm vào tình trạng trầm trọng. Hiện nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, anh chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh chị được thuận tình ly hôn. Việc anh T và chị P thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ ý chí của cả hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Anh T và chị P xác nhận anh chị có 02 con chung gồm: Cháu Hán Hồng D, sinh ngày 02/10/2011 và cháu Hán Quang D, sinh ngày 12/11/2013. Hiện nay, các cháu đều đang sống cùng anh T. Anh chị thống nhất sau khi ly hôn, đề nghị Tòa án giao cả hai cháu D, D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi từng cháu thành niên, lao động tự túc được. Xét thấy, thỏa thuận của anh T và chị P về người trực tiếp nuôi con chung là hợp pháp đồng thời phù hợp với nguyện vọng của các cháu D, D nên cần công nhận.
Về cấp dưỡng, anh chị thống nhất chị P không phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của đương sự cần được ghi nhận.
Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh T và chị P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh T và chị P thống nhất anh T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự cần được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 29; khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm h khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 149; các Điều 361, 362, 365, 366, 367, 369, 370, 371 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hán Văn T và chị Bùi Thị P.
[2] Về con chung:
Giao cháu Hán Hồng D, sinh ngày 02/10/2011 và cháu Hán Quang D, sinh ngày 12/11/2013 cho anh Hán Văn T trực tiếp nuôi cho đến khi từng cháu thành niên và lao động tự túc được.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng: Chị Bùi Thị P không phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
[4] Về tài sản chung, công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân, nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Tòa án không giải quyết.
[5] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Hán Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000119 ngày 29/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
[6] Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã B; - Đương sự; - Lưu: án văn, hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đỗ Ngọc Tuấn |