vanban.org

Quyết định 05/2021/QĐĐT-HNGD — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: số nhà 475 đường B, thị trấn K, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và ông Trần Văn T, sinh năm 1961.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị L và ông Trần Văn T. Về con chung: Bà L và ông T đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị D- sinh năm 1990. Chị Dung đã trưởng thành và có gia đình riêng nên ông bà không yêu cầu tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "QĐ công nhận hòa giải thành tại tòa án"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: số nhà 475 đường B, thị trấn K, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và ông Trần Văn T, sinh năm 1961.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
Số: 05/2021/QĐĐT-HNGD
Ân Thi, ngày 16 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

Thẩm phán ra quyết định: Ông Hoàng Lương Hồng; Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 31 tháng 8 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc yêu cầu xin ly hôn giữa:

- Người khởi kiện: Bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: số nhà 475 đường B, thị trấn K, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

- Người bị kiện: ông Trần Văn T, sinh năm 1961. Trú tại: thôn X, xã T, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Trần Thị D, sinh năm 1990; Nơi cư trú: số nhà 475 đường B, thị trấn K, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: số nhà 475 đường B, thị trấn K, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và ông Trần Văn T, sinh năm 1961. Trú tại: thôn X, xã T, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. 2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị L và ông Trần Văn T.

- Về con chung: Bà L và ông T đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị D- sinh năm 1990. Chị Dung đã trưởng thành và có gia đình riêng nên ông bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Bà L, ông T thống nhất: tài sản đứng tên ai thì người đó toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt. Về nợ: ai vay ở đâu người đó tự trả. Ông T, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 4. Các bên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. 5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ