vanban.org

Quyết định 05/2018/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: anh Nguyễn Quốc T và chị Nguyễn Thùy T1.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thùy T2, sinh ngày 15/3/2013. Sau khi ly hôn, chị T1 được trực tiếp nuôi cháu T2, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T1 không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Quốc T - Nguyễn Thùy T1"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: anh Nguyễn Quốc T và chị Nguyễn Thùy T1.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2018/QĐST-VHNGĐMỏ Cày Bắc, ngày 12 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ việc hôn nhân gia đình thụ lý số 387/2017/TLST-VHNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2017, giữa:

Người yêu cầu: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Người yêu cầu: Nguyễn Thùy T1, sinh năm 1995.

Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện T1, tỉnh Quảng Bình.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 01 năm 2018.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 01 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: anh Nguyễn Quốc T và chị Nguyễn Thùy T1.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thùy T2, sinh ngày 15/3/2013. Sau khi ly hôn, chị T1 được trực tiếp nuôi cháu T2, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T1 không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tài sản chung: chị T1, anh T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Nợ chung: chị T1, anh T trình bày không có nên không đề cập.

Lệ phí hôn nhân sơ thẩm: chị T1, anh T mỗi người phải nộp 150.000 đồng, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 000xxxx, 000xxxx cùng ngày 29/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên anh chị không còn phải nộp thêm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ